vanban.org

Bản án 05/2019/HS-ST — Hình sự

Tòa án Khu vực 1 - QK4, án Quân khu 4 Tuyên án 24/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Đức Thuận phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điề…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 584 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN QUÂN SỰ
KHU VỰC 1 - QUÂN KHU 4

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2019/HS-ST
Ngày 24 tháng 7 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC 1 QUÂN KHU 4

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: 1// Lê Văn Thông.

Các Hội thẩm quân nhân:

2// Phan Thanh Long

4/ Chế Đình Thắng

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: 2/ Cao Văn Huynh - Thư ký Tòa án quân sự khu vực 1 Quân khu 4.

Đại diện Viện kiểm sát quân sự khu vực 41 tham gia phiên tòa: 3/ Nguyễn Thành Luân - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2019, tại Phòng xử án Tòa án quân sự Khu vực 1 quân khu 4 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2019/HSST - TL ngày20 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05 /2019/QĐXX-ST ngày 12 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Lương Đức Th, sinh ngày 02 tháng 4 năm 1984 tại xã CK, huyện QP, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú bản Kh, xã CK, huyện QP, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự xã CK, huyện QP, tỉnh Nghệ An; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Quang V và bà Lư Thị Đ; có vợ là Hà Thị H và 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị kết án, xử lý hành chính hay xử lý kỷ luật. Đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

Bị hại: Anh Hoàng Văn H, sinh ngày 12 tháng 01 năm 1980; nghề nghiệp: Trợ lý tuyển quân, Ban chỉ huy quân sự huyện QP, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh NA. Nơi cư trú: Xã GSĐ, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An, đã chết ngày 18 tháng 11 năm 2018.

Người đại diện của bị hại:

Chị Trần Thị Ng, sinh năm 1984; nghề nghiệp: giáo viên; nơi cư trú: Xóm P, xã GSĐ, huyện ĐL (chị Ng là vợ của anh Hoàng Văn H), có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ban Chỉ huy quân sự huyện QP - đại diện là ông Nguyễn Quốc Tr - Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy quân sự huyện QP, có mặt

Những người làm chứng:

1. Trần Văn Ng; vắng mặt.

2. Sầm Văn C; vắng mặt

3. Trần Văn H; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 18/11/2018, Lương Đức Th sinh năm 1984 trú tại bản Kh, xã CK, huyện QP, tỉnh Nghệ An điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37F1- 085.40 mà trong hởi thở có nồng độ cồn 0,752mg/lít khí thở chở phía sau quân nhân Hoàng Văn H là đại úy, trợ lý tuyển quân, Ban Chỉ huy quân sự huyện QP, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh NA lưu thông trên quốc lộ 16 theo hướng từ thị trấn KS đi xã CK. Đến Km 256+210m thuộc địa phận xóm D, xã MN, huyện QP, tỉnh NA đã để phần trước bên phải xe mô tô biển kiểm soát 37F1- 085.40 va chạm cà trượt vào rào chắn kim loại, rồi đâm vào cột mốc rào chắn bằng kim loại bên phải đường làm cho xe mô tô cùng hai người ngã ra đường.

Hậu quả làm anh Hoàng Văn H bị chấn thương nặng và tử vong sau đó tại bệnh viện huyện Quế Phong, Lương Đức Th bị xay xát nhẹ, xe mô tô biển kiểm soát 37F1-085.40 bị hư hỏng nhẹ.

Biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường (dựng lại) do cơ quan Công an huyện Quế Phong tiến hành hồi 09 giờ 30 phút ngày 19/11/2018 thể hiện: Tại Km 256+160m quốc lộ 16 theo hướng Bắc - Nam ở lề đường bên phải có cắm biển cảnh báo nguy hiểm. Hiện trường nơi xảy ra tai nạn chạy theo hướng Bắc Nam, mặt đường rãi nhựa tương đối bằng phẳng đường có khúc cua, tầm nhìn tương đối hạn chế do có lan can hai bên đường.Chiều rộng mặt đường nhựa 6,3m, lề đường 1,1m, hai bên lề là đất cỏ. Xe mô tô biển kiểm soát 37F1-085.40 có một phần hai đuôi xe nằm trên mặt đường nhựa, một phần hai đầu xe nằm trên lề đường đất, đầu xe mô tô hướng Bắc, đuôi xe mô tô hướng Nam. Tâm trục bánh trước cách điểm mốc về phía đông bắc 10,5m, cách mép đường chuẩn 0,8m, tâm trục bánh sau cách mốc 11,3m, cách mép đường chuẩn 0,3m. Vết cày đứt đoạn có kích thước 0,07x8,8m có điểm đầu vết cày cách mốc 2,2m cách mép đường chuẩn 0,4m, mảnh nhựa của tấm chắn bùn phía trước xe mô tô có tâm cách mép đường chuẩn 0,9m, cách tâm bánh trước xe mô tô 0,5m. Đám máu kích thước 0,5x0,35m nằm trên đường nhựa cách mép đường chuẩn 0,7m, cách mốc 16,3m. (bl 41, 42)

Biên bản khám nghiệm phương tiện và biên bản khám nghiệm phương tiện bổ sung phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông do Công an huyện Quế Phong lập hồi 11 giờ 30 phút ngày 19/11/2018 và thể hiện: Cánh yếm phía trước bên phải bị xây xước và nứt vỡ nhựa kích thước 10x13cm cao so với mặt đất 80cm. Hộp nhựa mặt trước bảo vệ đèn xi nhan phía bên phải có xây xước nham nhở kích thước 0,7x4cm cao so với mặt đất 78cm. Nửa phía trước chắn bùn bánh trước bị gãy đứt rời khỏi xe, phía dưới bên trái có nứt vỡ bị trượt xước nhựa theo hướng từ trước ra sau, trái sang phải kích thước 7x2,5cm. Bề mặt phía trước cánh yếm bên phải có vết trượt xước mài mòn nứt vỡ cánh yếm kích thước 14x9,5cm hướng từ trước ra sau. Ốp nhựa phía dưới đèn xi nhan phía trước bên phải bị xước mài mòn nứt vỡ kích thước 14x6cm hướng từ trước ra sau. Bề mặt phía ngoài tay phanh bên phải phần núm kim loại tròn đầu tay phanh có vết trượt xước mòn sơn kim loại kích thước 1,2x1,8cm. (47,48,49,50).

Kết luận giám định pháp y tử thi Hoàng Văn H của Trung tâm pháp y tỉnh Nghệ An ngày 28/11/2018 kết luận: Nạn nhân Hoàng Văn H tử vong do đa chấn thương, chấn thương sọ não kín, vỡ xương hộp sọ vùng chẩm.

Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An ngày 24/12/2018 xác định: Ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn xe mô tô 37F1- 085.40 di chuyển trên quốc lộ 16 theo hướng từ thị trấn Kim Sơn đi xã Châu Kim. Không đủ cơ sở xác định tốc độ xe trước thời điểm xảy ra tai nạn. Xe mô tô 37F1- 085.40 không va chạm với phương tiện giao thông nào khác mà va chạm với dải hộ lan can ở lề đường phía bên phải theo hướng từ thị trấn Kim Sơn đi Châu Kim. Vị trí va chạm đầu tiên ở phần phía trước bên phải xe bao gồm các bộ phận tay phanh, ốp nhựa phía dưới sau đèn xin đường phía trước và phía trên cánh yếm; vị trí va chạm sau cùng là bánh trước và nửa phía trước chắn bùn bánh trước. Vị trí va chạm đầu tiên ở dải sóng tôn và vị trí va chạm sau cùng là tại cột kim loại dải hộ lan can. Ở trên hiện trường dải hộ lan trên lề đường phía bên phải theo hướng từ thị trấn Kim Sơn đi xã Châu Kim.

Biên bản kiểm tra nồng độ cồn do Công an huyện Quế Phong lập hồi 22 giờ 00 phút ngày 18/11/2018 xác định Lương Đức Thuận có nồng độ cồn trong hơi thở tại thời điểm đo là 0,752 mg/l khí thở.

Kết luận giám định âm thanh của Viện khoa học hình sự Bộ công an ngày 08/3/2019 kết luận: không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, làm thay đổi nội dung ghi âm trong các tập tin ghi âm mẫu cần giám định. Tiếng nói của người đàn ông xưng em trong mẫu giám định được ký hiệu là “Th” trong bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định và tiếng nói của ông Lương Đức Th trong mẫu so sánh là cùng một người. Tiếng nói của người phụ nữ xưng là chị trong mẫu cần giám định ký hiệu là “Ng” trong bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định và tiếng nói của bà Trần Thị Ng trong mẫu so sánh là cùng một người. Nội dung cả hai bản ghi âm đều thể hiện Lương Đức Th là người điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37F1- 085.40 chở anh Hoàng Văn H bị tai nạn giao thông xảy ra ngày 18/11/2018.

Tại phiên tòa bị cáo Lương Đức Th khai nhận do không để ý quan sát, không làm chủ tốc độ, không cho xe dừng lại tránh xe ngược chiều nên đã để xe mô tô biển kiểm soát 37 F1- 085.40 đâm vào lan can bên phải theo hướng đi của mình gây tai nạn. Khi điều khiển xe mô tô gây tai nạn Th đội mũ bảo hiểm, mặc quần dài, áo dài xắn tay áo lên, người sau là anh Hoàng Văn H không đội mũ bảo hiểm, mặc quần đùi áo lót.

Người làm chứng Trần Văn Ng khai trong quá trình điều tra: Khoảng 18 giờ ngày 18/11/2018 tôi đạp xe đạp đến đoạn khúc đường cong thuộc địa phận xóm D, xã MN, huyện QP, tỉnh Nghệ An trên quốc lộ 16 theo hướng xã CK về thị trấn KS thì nhìn thấy phía đường ngược chiều có một chiếc xe mô tô cùng hai người ngồi trên xe mô tô, người điều khiển xe mất lái đi vào đoạn đường cong, tôi thấy phần bên phải của xe và hai người ngồi trên xe va chạm vào lan can cà trượt một đoạn, sau đó xe mô tô ngã nghiêng bên trái ra lề đường, người ngồi trước mặc quần dài, áo dài xắn tay lên, đầu đội mũ bảo hiểm có kính, người ngồi sau mặc quần đùi áo lót, đầu không đội mũ bảo hiểm ngã bay ra lòng đường. (bút lục 61,62)

Người làm chứng Sầm Văn C khai tại quá trình điều tra: Vào khoảng 18 giờ ngày 18/11/2018 tôi đang ngồi trên ghế phụ trong ca bin của ô tô dạng xe ben do anh Trần Văn H trú tại khối 7 thị trấn KS, huyện QP tỉnh Nghệ An điều khiển theo hướng xã CK đi thị trấn KS trên quốc lộ 16 đến đoạn khúc đường cong thì thấy ở phần đường ngược chiều có một xe mô tô đi ngược chiều rồi lảo đảo va chạm vào rào chắn ở phía bên phải đường theo hướng đi của xe mô tô, tôi thấy người điều khiển xe mô tô đội mũ bảo hiểm, người ngồi sau xe không đội mũ bảo hiểm. (bút lục 97, 98)

Người làm chứng Trần Văn H khai trong quá trình điều tra: Khoảng 18 giờ ngày 18/11/2018, tôi điều khiển xe ô tô đi từ hướng xã CK về thị trấn KS, đến đoạn đường cong trên quốc lộ 16 thuộc địa phận xóm D, xã MN, huyên QP thì thấy ở phần đường ngược chiều có một xe mô tô mất lái loạng choạng chạy từ hướng thị trấn KS đi CK va chạm vào hàng rào chắn bên phải đường sau đó xe mô tô ngã ra đường. Hai người trên xe mô tô ngã ra, một người ngã ra lề đường phía trước cạnh xe, một người ngã bay ra phía trước lòng đường. Tôi dừng xe xuống thì thấy anh Ngọc ở cùng xóm dựng xe đạp và chạy đến, lúc đó tôi thấy một người đàn ông liên quan đến vụ tai nạn ngã phía trước gần xe mặc quần dài, áo dài xắn tay, đầu đội mũ bảo hiểm ngã phía trước sát xe đang đứng dậy dựng xe dậy và sau đó đi lại chỗ người bị nạn đang nằm ở lòng đường. (bút lục 89)

Tại bản Cáo trạng số: 02/CT - VKSQSKV41 ngày 16 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát quân sự Khu vực 41 truy tố bị can Lương Đức Th về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b, Khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tranh luận tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lương Đức Th về tội “vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b, Khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”,“người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm b, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự vì có bố, mẹ của bị cáo là người có công với nước và đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Trên cơ sở đó Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo 3 năm tù; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 BLHS cho bị cáo được hưởng án treo thời gian thử thách là 5 năm.

Về bồi thường thiệt hại, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận việc bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường và đã bồi thường xong số tiền 40.000.000 đồng cho gia đình bị hại Hoàng Văn H. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 591 Bộ luật dân sự 2015 buộc bị cáo bồi hoàn chi phí hợp lý cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án

Về xử lý vật chứng, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận việc các cơ quan tiến hành tố tụng đã trả lại chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 37F1-085.40 cho chị Hà Thị H; trả lại chiếc quần dài màu đen, áo dài tay và 01 chiếc mũ bảo hiểm cho bị cáo Lương Đức Th.

Tranh luận tại phiên tòa bị cáo Lương Đức Th đồng ý với lời luận tội của Kiểm sát viên, đồng thời xin Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xin được hưởng án treo để có cơ hội lao động giúp đỡ gia đình bị cáo cũng như có điều kiện quan tâm đến gia đình người bị hại. Ngoài ra tại phiên tòa hôm nay bị cáo cũng hứa sẽ có trách nhiệm với hai người con của người bị hại.

Người đại diện của người bị hại bà Trần Thị Ng đồng ý với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên và không có ý kiến gì thêm về phần bồi thường thiệt hại, tuy nhiên đề nghị bị cáo có trách nhiệm , quan tâm với hai người con của bị hại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra bố đẻ của người bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người đại diện cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Quốc Tr yêu cầu bị cáo bồi hoàn số tiền 45.000.000 đồng mà đơn vị đã bỏ ra để lo mai táng cho anh Hoàng Văn H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi và quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đại diện của bị hại và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử thấy các hành vi, quyết định của cơ quan và người tiến hành tố tụng trong vụ án đều thực hiện hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát quân sự Khu vực 41 đã truy tố, lời khai này hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Bị cáo Lương Đức Th là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, quá trình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 37F1-085.40 không giảm tốc độ thấp hơn tốc độ tối đa cho phép (có thể dừng lại một cách an toàn) tại nơi có biển cảnh báo nguy hiểm (biển 201a: chỗ ngoặt nguy hiểm vòng bên trái), khi gặp đường vòng được quy định tại Điều 5 Thông tư số 91/2015/TT-BGTVT ngày 31 tháng 12 năm 2015 quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ đã vi phạm vào Khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ nên đã va chạm với dải lan can bên đường gây tai nạn, hậu quả làm anh Hoàng Văn H tử vong. Quá trình điều khiển xe gây tai nạn bị cáo Lương Đức Th có nồng độ cồn trong hơi thở là 0,752 mg/lít khí thở đã vi phạm vào Khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát quân sự Khi vực 41 truy tố Lương Đức Th tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b, Khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là có cơ sở.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại Hoàng Văn H 40.000.000 đồng. Quá trình điều tra mặc dù thời gian đầu bị cáo không nhận mình là người điều khiển xe mô tô gây tại nạn, tuy nhiên quá trình điều tra sau đó và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra bị cáo còn được tặng thưởng nhiều giấy khen trong quá trình công tác, bố bị cáo là ông Lương Quang V được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba, mẹ bị cáo là bà Lữ Thị Đ tham gia dân công hỏa tuyến được hưởng chế độ người có công theo quy định của pháp luật, do đó Hội đồng xét xử xét thấy Kiểm sát viên đề nghị cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả”,“người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm b, s, Khoản 1 Điều 51 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là có cơ sở. Quá trình công tác tại địa phương bị cáo Lương Đức Th được chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An tặng bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ quân sự quốc phòng năm 2009. Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy đối với loại hình khen thưởng bằng khen là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong công tác” quy định tại điểm v Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, bị cáo được hưởng thêm một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm v, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo không những xâm phạm trật tự công cộng, ảnh hưởng đến tình hình trật tự an toàn giao thông trên địa bàn mà còn gây thiệt hại tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ.

Xét về nhân thân, bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ không có việc làm ổn định, bố bị cáo bị ung thư đang phải điều trị. Ngoài ra, tại phiên tòa hôm nay, đại diện của bị hại cũng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử có cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Trên cơ sở xem xét, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, tuy nhiên, bị cáo là người có ý thức pháp luật tương đối tốt, có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân nơi cư trú, có hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn, có khả năng tự cải tạo xét thấy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội vẫn đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo lao động, giúp đỡ gia đình và phần nào bù đắp thêm những tổn thất mà gia đình người bị hại phải gánh chịu, do đó Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo thời gian thử thách được ấn định theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao.

Về vấn đề bồi thường thiệt hại: Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo và đại diện của bị hại đã tự nguyện thỏa thuận, theo đó bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại và đã bồi thường xong cho gia đình bị hại Hoàng Văn H 40.000.000 đồng theo biên bản thỏa thuận ngày 11/01/2019. Xét thấy việc tự nguyện thỏa thuận này là hợp pháp, tại phiên tòa hôm nay các bên vẫn giữ nguyên quan điểm, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án yêu cầu bị cáo bồi hoàn khoản tiền mà Ban Chỉ huy quân sự huyện QP đã bỏ ra để cấp cứu điều trị cho, mai táng cho quân nhân Hoàng Văn H bao gồm: tiền thuê xe cấp cứu 8.000.000 đồng, chi phí đảm bảo cấp cứu điều trị 10.000.000 đồng, chi phí mua hòm gỗ dỗi 11.500.000 đồng, chi phí bảo đảm mai táng 15.500.000 đồng. Về yêu cầu này, Hội đồng xét xử xét thấy đối với khoản tiền chi phí điều trị cho anh Hoàng Văn H đã được bảo hiểm xã hội thanh toán; chi phí đảm bảo mai táng trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện của bị hại đã kê khai, tự nguyện thỏa thuận bồi thường với bị cáo và đã thực hiện việc bồi thường xong với số tiền là 40.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận các yêu cầu này của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án . Đối với yêu cầu bồi hoàn khoản tiền 8.000.000 đồng thuê xe đưa người bị hại đi cấp cứu, đưa người bị hại về quê, khoản tiền 11.500.000 đồng mua hòm gỗ dỗi, mặc dù quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không xuất trình được hóa đơn chứng từ chứng minh khoản chi phí này, tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy đây là những chi phí hợp lý để thực hiện việc đưa người bị hại đi cấp cứu, chở người bị hại về quê, để mai táng, phù hợp với tập quán của địa phương. Các khoản chi phí này đáng lẽ bị cáo phải bồi thường cho gia đình bị hại, tuy nhiên Ban chỉ huy quân sự huyện QP đã bỏ ra các khoản chi phí này nên bị cáo phải bồi hoàn lại cho Ban Chỉ huy quân sự huyện QP . Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 584, Điều 585, 591 Bộ luật dân sự 2015 buộc bị cáo hoàn trả số tiền 8.000.000 đồng và11.500.000 đồng cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Tổng số tiền mà bị cáo phải bồi hoàn cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án là 8.000.000 đồng + 11.500.000 đồng = 19.500.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 37F1-085.40 mà bị cáo Lương Đức Th điều khiển gây tai nạn là của chị Hà Thị H (vợ bị cáo) cho bị cáo mượn, quá trình giải quyết vụ án cơ quan tiến hành tố tụng đã trả lại chiếc xe nói trên cho chủ sở hữu là chị Hà Thị H; ngoài ra cơ quan tiến hành tố tụng cũng trả lại 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 37F1-085.40 mang tên Hà Thị H, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự số 171709340 mang tên Hà Thị H cho chủ sở hữu là chị Hà Thị H; trả lại 01 giấy phép lái xe số AA217579 mang tên Lương Đức Th, trả lại 01 chiếc quần dài màu đen, 01 áo dài tay sọc trắng đen, 01 mũ bảo hiểm cho bị cáo Lương Đức Th. Xét thấy việc xử lý của cơ quan tiến hành tố tụng là đúng quy định của pháp luật, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

- Án phí dân sự sơ thẩm: 19.500.000 đồng x 5% = 975.000 đồng

Vì các lẽ trên, căn cứ vào điểm g, Khoản 2 Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình sự

Tuyên bố bị cáo Lương Đức Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm b, Khoản 2 Điều 260; điểm b, s, v Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Khoản 1, Khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lương Đức Th 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/7/2019). Giao Lương Đức Th cho Ủy ban nhân dân xã CK, huyện QP, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp Lương Đức Th thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về các biện pháp tư pháp

Ghi nhận bị cáo Lương Đức Th đã thỏa thuận bồi thường xong cho gia đình bị hại Hoàng Văn H số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng;

Áp dụng Khoản 1, Điều 48 Bộ luật hình sự; Khoản 1 Điều 584, Điều 585, Khoản 1 Điều 591 Bộ luật dân sự 2015 buộc bị cáo Lương Đức Th phải bồi hoàn cho Ban Chỉ huy quân sự huyện QP số tiền 19.500.000 (mười chín triệu năm trăm nghìn) đồng;

Áp dụng Điều 357 Bộ luật dân sự 2015 kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu của người thi hành án, nếu bên có nghĩa vụ thi hành chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

3. Về án phí

- Căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo Lương Đức Thuận phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm; phải chịu 975.000 (chín trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo đối với bản án

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/7/2019) bị cáo, đại diện của bị hại và đương sự khác có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án quân sự quân khu 4./.

Cỡ chữ