- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn G và Nguyễn Văn D pham tội "Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đ…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Bị cáo Lƣơng Văn G phạm tội “Mua án trái phép chất ma túy"; bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG UYÊN TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2019/HS-ST Ngày: 04-03-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG UYÊN, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Mến
Các Hội thẩm nhân dân: + Đàm Quang Băng
+ Đinh Sơn Quyết
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mai Hoa - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Lục Thị Hà - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 03 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2019/TLST- HS ngày 25 tháng 01 năm 2019; theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 04/2019/QĐXXST- HS ngày 20 tháng 02 năm 2019 đối với các bị cáo:
1. LƢƠNG VĂN G, sinh ngày 28/8/1982 tại thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; nơi cƣ trú: Phố T, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Không nghề; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lƣơng Quang N (đã chết) và bà Long Thị T; vợ, con: Không có; tiền án, tiền sự: Không.
Đ c điểm nh n th n:
- Ngày 28/11/2007, ị Tòa án nh n d n tỉnh Cao Bằng xử phạt 18 tháng tù về tội “Cƣỡng đoạt tài sản”.
- Ngày 18/4/2014, ị Tòa án nh n d n huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo đang ị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Quảng Uyên từ ngày 05/11/2018 đến nay; có m t tại phiên tòa.
2. NGUYỄN VĂN D, sinh ngày 07/01/1988 tại xã T, huyện P, tỉnh Cao Bằng; nơi cƣ trú: xóm B, xã T, huyện P, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Nghề nông; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị U; vợ, con: Không có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang ị tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện Quảng Uyên từ ngày 05/11/2018; có m t tại phiên tòa.
Người làm chứng: Bế Đình D (tên gọi khác là N), sinh năm 1994;
Nơi cƣ trú: xóm L, xã P, huyện Q, tỉnh Cao Bằng.
Vắng m t không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn iến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Hồi 20 giờ 05 phút ngày 05/11/2018, tổ công tác của Công an huyện Quảng Uyên làm nhiệm vụ tại khu vực phố T, thị trấn Q, huyện Q phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Văn D, trú tại: xóm B, xã T, huyện P tàng trữ một gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, bên trong chứa chất bột màu trắng D để trong túi quần bên trái đang m c. Qua đấu tranh khai thác, D khai đó là Heroine mua với Lƣơng Văn G, trú tại: phố T, thị trấn Q, huyện Q; ngoài ra, Công an thu giữ của D 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh đen, máy cũ đã qua sử dụng.
Hồi 20 giờ 25 phút cùng ngày, Công an huyện Quảng Uyên thi hành Lệnh giữ ngƣời trong trƣờng hợp khẩn cấp đối với Lƣơng Văn G, khám ngƣời G tạm giữ: Tiền Ng n hàng nhà nƣớc Việt Nam: 4.500.000đ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động cảm ứng hiệu Vivo màu trắng bạc, máy cũ đã qua sử dụng và 01 (một) chiếc xi lanh đã qua sử dụng.
Hồi 20 giờ 30 phút cùng ngày, Công an huyện Quảng Uyên tiến hành khám xét khẩn cấp nhà và chỗ ở của Lƣơng Văn G, thu giữ tại đầu giƣờng ngủ của G 02 (hai) gói nhỏ đƣợc gói bằng giấy kẻ màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng, đối tƣợng khai là Heroine.
Tại Cơ quan điều tra G khai bản thân sử dụng ma túy từ năm 2003. Khoảng 14 giờ ngày 05/11/2018 Giang bắt xe Bus từ thị trấn Q đến huyện K mục đích để mua ma túy. Khi đến chợ thị trấn T, G vào quán nƣớc cạnh đƣờng hỏi một ngƣời đàn ông không quen iết “ở đ y anh có lấy đƣợc hàng không”, ngƣời đó nói “có, mày lấy ao nhiêu”, G ảo “em lấy 300.000đ”; rồi G đƣa cho ngƣời đàn ông đó 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), sau đó đƣa tiếp 50.000đ (Năm mƣơi nghìn đồng) và nói “anh cầm lấy uống nƣớc”; khoảng 10 phút sau ngƣời đó quay lại đƣa cho G 03 (ba) gói ma túy. G bắt xe ô tô về nhà, chia một gói ma túy ra thành hai gói nhỏ để bán, hai gói ma túy còn lại chƣa chia thì ị Công an thu giữ. G khai trƣớc khi bị bắt đã bán ma túy cho những ngƣời sau:
- Khoảng 19 giờ ngày 05/11/2018 bán cho Nguyễn Văn D, trú tại: xóm B, xã T, huyện P 01 (một) gói ma túy trị giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng);
- Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 05/11/2018 bán cho Bế Đình D1, trú tại: xóm L, xã P, huyện Q 01 (một) gói ma túy trị giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng).
Hình thức giao dịch: D, D1 gọi điện thoại cho G hỏi mua ma túy, G hẹn địa điểm, sau đó trực tiếp giao dịch tại ngã tƣ gần trƣờng Tiểu học thị trấn Q, huyện Q.
Ngày 06/11/2018 Công an huyện Quảng Uyên đã tiến hành mở niêm phong, xác định tang vật vụ án để cân khối lƣợng tịnh số chất bột màu trắng thu giữ đƣợc của Nguyễn Văn D là 0,18 gam (Không phẩy mƣời tám gam), chất bột thu giữ của Lƣơng Văn G là 0,08 gam (Không phẩy không tám gam). Sau khi c n xong Công an đã tách một phần gửi trƣng cầu giám định. Tại các bản kết luận giám định số 223 ngày 16/11/2018 và số 224 ngày 19/11/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.
Tại ản Cáo trạng số 02/CT-VKSQU ngày 24/01/2019, Viện kiểm sát nh n d n huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng đã truy tố Lƣơng Văn G về hành vi “Mua án trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm , c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố Nguyễn Văn D về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa các ị cáo Lƣơng Văn G và Nguyễn Văn D thừa nhận nội dung ản Cáo trạng phản ánh đúng các hành vi của mình. Các bị cáo iết hành vi của mình là vi phạm pháp luật và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Trong phần tranh luận tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nh n d n huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quyết định truy tố các ị cáo nhƣ Cáo trạng. Đề nghị áp dụng điểm , c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Lƣơng Văn G, đề nghị xử phạt ị cáo G từ 7 năm 6 tháng tù đến 8 năm 6 tháng tù về tội "Mua án trái phép chất ma túy". Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với ị cáo Nguyễn Văn D, đề nghị xử phạt ị cáo D từ 01 đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ Luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu huỷ phong bì chứa Heroine và chiếc xi lanh của các bị cáo; tịch thu để sung vào quỹ Nhà nƣớc chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia màu xanh đen của bị cáo Nguyễn Văn D và chiếc điện thoại cảm ứng nhãn hiệu Vivo màu trắng bạc của bị cáo Lƣơng Văn G; tịch thu để sung vào quỹ Nhà nƣớc số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) của ị cáo Lƣơng Văn G do án ma túy có đƣợc; trả cho bị cáo Lƣơng Văn G số tiền 4.300.000đ (Bốn triệu ba trăm nghìn đồng), nhƣng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Các bị cáo không có ý kiến trong phần tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ và phù hợp với lời khai của ngƣời làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; vì vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận nhƣ sau: Hồi 20 giờ 05 phút ngày 05/11/2018 tại phố T, thị trấn Q, huyện Q, Công an huyện Quảng Uyên bắt quả tang Nguyễn Văn D có hành vi tàng trữ 0,18 (Không phẩy mƣời tám) gam Heroine. D khai mua số ma túy trên với Lƣơng Văn G về sử dụng. Cùng ngày Công an huyện Quảng Uyên khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lƣơng Văn G thu giữ 0,08 (Không phẩy không tám) gam Heroine. Bị cáo G khai, số Heroine bị thu giữ bị cáo mua về để sử dụng và bán lại cho các đối tƣợng nghiện để kiếm lời. Trƣớc khi bị bắt G đƣợc bán ma túy cho những ngƣời sau: Ngày 05/11/2018 bán cho Nguyễn Văn D 01 (Một) gói ma túy trị giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng); bán cho Bế Đình D1 01 (Một) gói ma túy trị giá 100.000,đ (một trăm nghìn đồng).
Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn D đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Còn hành vi của bị cáo Lƣơng Văn G là án trái phép ma túy 02 lần trở lên và án trái phép ma túy cho 02 ngƣời trở lên, nên đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự nhƣ Cáo trạng của Viện kiểm sát huyện Quảng Uyên - Cao Bằng đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền kiểm soát và quản lý các chất ma túy của Nhà nƣớc. Các bị cáo biết tác hại của ma túy và các quy định của pháp luật về phòng chống ma túy nhƣng do hám lợi, lối sống buông thả, ý thức chấp hành pháp luật kém nên cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo không chỉ xâm phạm đến các quy định của Nhà nƣớc về quản lý các chất ma túy mà còn là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Chính vì vậy, Nhà nƣớc đã có chế tài nghiêm khắc đối với loại tội phạm này. Do đó, cần phải xử lý các bị cáo nhiêm minh trƣớc pháp luật.
Về nhân thân:
- Bị cáo Lƣơng Văn G là ngƣời có nhân thân xấu, nghiện ma túy, đã nhiều lần bị các Tòa án đƣa ra xét xử; cụ thể, ngày 28/11/2007 ị Tòa án nh n d n tỉnh Cao Bằng xử phạt 18 tháng tù về tội “Cƣỡng đoạt tài sản”; ngày 18/4/2014 ị Tòa án nh n d n huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, nhƣng ị cáo không lấy đó làm ài học cho bản thân mà còn tiếp tục phạm tội; điều đó cho thấy ý thức tu dƣỡng, rèn luyện của bị cáo G kém.
- Còn bị cáo Nguyễn Văn D là ngƣời nghiện, mục đích mua ma túy về tàng trữ để sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích khác.
Về tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo nên cả hai bị cáo đều đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của các ị cáo, sau khi xem xét các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ và nh n th n của từng ị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy để ngăn ngừa các bị cáo phạm tội mới thì việc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định là cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành ngƣời có ích cho xã hội, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát Quảng Uyên tại phiên tòa về mức hình phạt đối với các bị cáo cũng nhƣ các vấn đề khác liên quan trong vụ án phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hình phạt ổ sung: Các bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không phạt hình phạt ổ sung là phạt tiền các ị cáo theo quy định của pháp luật.
Về vật chứng: Vật chứng chuyển theo hồ sơ vụ án Lƣơng Văn G và Nguyễn Văn D có 06 (Sáu) phong ì còn niêm phong theo luật định, hiện nay Chi cục Thi hành án d n sự huyện Quảng Uyên đang quản lý theo iên ản giao nhận vật chứng ngày 28/01/2019, gồm:
- Ba phong bì ghi số 01, 04 và 05 bên trong chứa Heroine và chiếc xi lanh đã qua sử dụng, vì các vật chứng thuộc loại Nhà nƣớc cấm lƣu hành và không sử dụng đƣợc nên cần tịch thu và tiêu huỷ theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Phong bì số 03 bên trong có chiếc điện thoại cảm ứng hiệu Vivo màu trắng bạc của bị cáo Lƣơng Văn G; còn phong ì ghi số 06 có chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia màu xanh đen của bị cáo Nguyễn Văn D. Cả hai ị cáo đều khai điện thoại là của các ị cáo, các ị cáo đã dùng chiếc điện thoại để liên lạc mua, án ma túy; do đó cần tịch thu phát mại điện thoại của ị cáo G và ị cáo D để sung vào quỹ Nhà nƣớc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Đối với số tiền 4.500.000đ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Lƣơng Văn G (phong bì số 02); bị cáo Giang khai trong đó có 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) là tiền án ma túy, nên Hội đồng xét xử tịch thu để sung quỹ Nhà nƣớc số tiền này theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; số tiền còn lại là của bị cáo G đi cầm chiếc xe mô tô biểm kiểm soát 11B1-01.027 mà có, xét thấy số tiền 4.300.000đ (Bốn triệu a trăm nghìn đồng) không liên quan đến việc phạm tội nền Hội đồng xét xử trả cho bị cáo G, nhƣng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Bị cáo Lƣơng Văn G và ị cáo Nguyễn Văn D mỗi ngƣời phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Bị cáo Lƣơng Văn G phạm tội “Mua án trái phép chất ma túy"; bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt ị cáo Lƣơng Văn G 08 (Tám) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 05/11/2018.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt ị cáo Nguyễn Văn D 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 05/11/2018.
3. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
1- Tịch thu tiêu huỷ ba phong bì ghi số: 01, 04 và 05 bên trong chứa Heroine và chiếc xi lanh.
2- Tịch thu phát mại để sung vào quỹ Nhà nƣớc chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia màu xanh đen của bị cáo Nguyễn Văn D và chiếc điện thoại cảm ứng nhãn hiệu Vivo màu trắng bạc của bị cáo Lƣơng Văn G (để ở phong bì số 03 và 06).
3- Tịch thu để sung vào quỹ Nhà nƣớc số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) của ị cáo Lƣơng Văn G do án ma túy có đƣợc (để ở phong bì số 02).
4- Trả cho bị cáo Lƣơng Văn G số tiền 4.300.000đ (Bốn triệu ba trăm nghìn đồng), nhƣng tạm giữ để đảm bảo thi hành án (để ở phong bì số 02).
Xác nhận, tất cả các phong ì còn niêm phong theo luật định, Chi cục Thi hành án d n sự huyện Quảng Uyên đang quản lý các vật chứng trên.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Bị cáo Lƣơng Văn G và bị cáo Nguyễn Văn D mỗi ngƣời phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) để sung công quỹ Nhà nƣớc.
Án xử công khai sơ thẩm, các ị cáo có quyền kháng cáo ản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh; - Sở tƣ pháp; - VKS tỉnh, huyện; - Công an huyện; - Cơ quan THA hình sự; - Trại giam; - Chi cục THA d n sự huyện; - Các ị cáo; - Lƣu: Án văn, THA hình sự và HS. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Th phán - Chủ tọa phiên tòa Phùng Thị Mến |