- Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Cao M - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Triệu Cao M phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH ĐIỆN BIÊN ______________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2019/HS-ST Ngày 24-01- 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vàng Thị Dua.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vàng A Hý và ông Thùng Văn Liên.
- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Thùy Dung - Thư ký Toà án nhân dân huyện N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên; mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2018/TLST-HS ngày 28/12/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2019/QĐXXST-HS ngày 11/01/2019 đối với bị cáo:
Triệu Cao M: Tên gọi khác: Chảo Cáo M; Sinh năm 1978 tại huyện N – tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản H, xã P, huyện N, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ học vấn: 2/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Chảo Xiềng T; sinh năm 1952 và con bà: Chảo Lai C; sinh năm 1960; Bị cáo có vợ là Tẩn Thị P sinh năm 1980 và có 02 người con;
Tiền sự: Không; Tiền án: Có 01 tiền án;
Nhân thân: Năm 2011 bị Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên đưa vào cơ sở giáo dục 24 tháng; Năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy tại bản án số 7a/2015/HSST ngày 03/12/2015, đến ngày 09/12/2016 chấp hành xong án về sinh sống tại địa phương.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/9/2018 cho tới nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa: Ông Pờ Go L, địa chỉ: Tổ 1 xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên;
Là luật sư, trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Điện Biên (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 07 giờ 30 phút, ngày 22/9/2018, tổ công tác Đồn Công an xã C phối hợp với Công an xã P đang làm nhiệm vụ tại khu vực bản PT, xã PT, huyện N, phát hiện bắt quả tang Triệu Cao M đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã thu giữ 03 gói ni lông màu trắng mở bên trong có chứa chất bột dạng nén màu trắng, nghi là Heroine. Triệu Cao M khai nhận 03 gói ni lông màu trắng có chứa chất dạng bột nén màu trắng vừa bị tổ công tác thu giữ là Heroine của M mua của một người đàn ông dân tộc Thái không biết tên tuổi, địa chỉ ở đâu tại khu vực mốc 4 thuộc khu vực xã Nậm Tin, huyện N với số tiền 2.300.000đ (Hai triệu ba trăm nghìn đồng), mục đích M tàng trữ trái phép chất ma túy là để sử dụng cho bản thân.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định ngày 24/9/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N xác định: Gói vật chứng số 01 nghi là Heroine có khối lượng 3,79 gam; Gói vật chứng số 02 nghi là Heroine có khối lượng 5,38 gam; Gói vật chứng số 03 nghi là Heroine có khối lượng 2,35 gam; có tổng khối lượng ma túy thu giữ của Triệu Cao M là 11,52 (Mười một phẩy năm hai) gam.
Bản kết luận giám định số: 831/GĐ-PC09, ngày 04/10/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: 03 (Ba) mẫu chất bột màu trắng gửi trích ra từ vật chứng thu giữ của Triệu Cao M gửi giám định là chất ma túy. Loại Heroine. Khối lượng vật chứng thu giữ của Triệu Cao M là 11,52 gam.
Bản cáo trạng số: 05/CT-VKSNP ngày 28/12/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị can Triệu Cao M (Chảo Cáo M) về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249/ BLHS.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Triệu Cao M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Triệu Cao M phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Triệu Cao M mức án từ 06 đến 07 năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng vụ án là 10,89 gam Heroine (sau khi trừ mẫu gửi giám định không hoàn lại).
Miễn án phí án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo Triệu Cao M thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ông Pờ Go L là người bào chữa cho bị cáo Triệu Cao M cho rằng về tội danh và khung hình phạt ông không có ý kiến gì. Bị cáo Triệu Cao M thực hiện hành vi phạm tội do nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự, xử phạt cho bị cáo Triệu Cao M mức án thấp nhất theo bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N. Đồng thời xem xét miễn áp dụng hình phạt bổ sung và án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Triệu Cao M.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo Triệu Cao M không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 07 giờ 30 phút, ngày 22/9/2018, Triệu Cao M đã có hành vi tàng trữ trái phép 11,52 gam Heroine với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại bản PT, xã PT, huyện N, tỉnh Điện Biên.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, phù hợp với kết quả điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định ngày 24/9/2018; Kết luận giám định số 831/GĐ-PC09, ngày 04/10/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên. Vì vậy HĐXX kết luận bị cáo Triệu Cao M đã có hành vi phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249/BLHS.
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc ̣ trường hợp rất nghiêm trọng, gây
̣ nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Bị cáo M là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện.
Xét đề nghị của luật sư bào chữa cho bị cáo thấy: Bị cáo Triệu Cao M sinh sống tại vùng sâu vùng xa, thực hiện hành vi phạm tội do nhận thức pháp luật còn hạn chế, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự, xử phạt mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo là phù hợp cần được xem xét.
Về nhân thân: Bị cáo Triệu Cao M từ nhỏ được bố mẹ cho đi học đến 2/12, do không chịu rèn luyện bản thân và hiểu biết pháp luật hạn chế nên bị cáo đã sớm nghiện chất ma túy. Năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên xử phạt 24 tháng tù, về cùng tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 09/12/2016 được ra trại về địa phương sinh sống. Đến ngày 22/9/2018 bị cáo M có hành vi phạm tội trong vụ án này là phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích và thuộc trường hợp “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52/BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Triệu Cao M thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Do đó áp dụng mức hình phạt nghiêm nhằm răn đe giáo duc ̣ đối với bi ̣cáo, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa chung trong nhân dân.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 249/BLHS, xét thấy bị cáo Triệu Cao M có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên HĐXX miễn hình bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Triệu Cao M khai nhận đã mua ma túy của người đàn ông dân tộc Thái không biết tên tuổi và địa chỉ ở đâu. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng M. Do đó, không có cơ sở để xác M và xử lý đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo và buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma túy bị thu giữ.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 10,89 gam Heroine (Sau khi trừ mẫu gủi giám định, không hoàn lại) là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS và khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14: HĐXX xét thấy gia đình bị cáo Triệu Cao M là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ nên được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố bị cáo Triệu Cao M phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
[2] Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 38. điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52/BLHS: Xử phạt bị cáo Triệu Cao M 06 (Sáu) năm tù, kể từ ngày bắt: 22/9/2018.
[3] Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS; Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106/BLTTHS; Tuyên tịch thu tiêu huỷ 10,89 gam Heroine (Sau khi đã trừ mẫu gửi giám định, không hoàn lại), theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/12/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N.
[4] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS năm 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016: Bị cáo Triệu Cao M được miễn án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
[5] Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - CQĐT Công an huyện N; - Nhà tạm giữ Công an huyện N; - CQTHAHS huyện N; - Phòng KTNV và THA Tòa án tỉnh; - Chi cục THADS huyện N; - PC 81 CA tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện N; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên; - Sở tư pháp tỉnh Điện Biên; - Lưu hồ sơ vụ án; HSTHA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Vàng Thị Dua |