- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn anh
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2019/HNGĐ -ST Ngày: 06/3/2019 V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN H1ỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hiểu và bà Trần Thị Cúc.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vương - Thư ký Tòa án nhân dân
Huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình tham
gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhất - Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân Huyện Tiền Hải, tỉnh
Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 06/2019/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 05/2019/QĐST- HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2017 và quyết định hoãn phiên tòa số: 29/2017/QĐST- HNGĐ ngày 11/02/2019 giữa các đương sự: - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy H (Tức T1), sinh năm 1980.
- Bị đơn: Anh Đỗ Văn T, sinh năm 1972.
Đều hộ khẩu thường trú và địa chỉ: Thôn Đ, xã N, Huyện Tiền Hải, tỉnh Thái
Bình. ( Chị H có mặt, anh T vắng mặt tại phiên Tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 03/01/2019 cũng như tại bản tự khai và
tại phiên Tòa hôm nay nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy H trình bày: Chị và anh Đỗ Văn T kết hôn với nhau ngày 07/7/2004 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã N, Huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian từ năm 2004 đến tháng 12 năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T có quan hệ bất chính với người khác nhưng chị không có căn cứ nên dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên xúc phạm danh dự nhau. Đến tháng 6/2017, anh T thường xuyên có hành vi đánh bạc nên không tu chí làm ăn lao động nhưng việc anh T đánh bạc chị không có chứng cứ gì nên mâu thuẫn vợ chồng chị ngày càng căng thẳng nhất là thời điểm tháng 12/2018 anh T có ý định dùng dao dí vào cổ chị đe dọa chị phải bán nhà nhưng đã được khách hàng của chị can ngăn anh T, từ đó đẫn đến việc chị không chịu nổi lên đã sống ly thân với anh T từ tháng 12/2018 đến nay. Chị xác định không còn tình cảm với anh T vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng nên anh xin được ly hôn anh T.
Về con chung: Vợ chồng chị có bốn con chung là Đỗ Đức H1, sinh ngày
12/4/2001, Đỗ Thị Diễm Q, sinh ngày 31/10/2005, Đỗ Phạm Như N, sinh ngày 22/9/2013 và Đỗ Thanh M, sinh ngày 26/12/2016. Quan điểm của chị H xin nuôi hai con và giao cho anh T nuôi hai con và hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Về tài sản và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Đỗ Văn T trình bày: Vợ chồng anh có đăng ký kết hôn năm 2004,
tại Ủy ban nhân dân xã N, Huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình theo anh mâu thuẫn vợ chồng là do vợ chồng chị sống không có tiếng nói chung bất đồng quan điểm. Vợ chhồng đã sống ly thân, quan điểm của anh T xin đoàn tụ để vợ chồng để nuôi dạy con chung.
Về con chung: Vợ chồng anh có bốn con chung là Đỗ Đức H1, sinh ngày
12/4/2001, Đỗ Thị Diễm Q, sinh ngày 31/10/2005, Đỗ Phạm Như N, sinh ngày 22/9/2013 và Đỗ Thanh M, sinh ngày 26/12/2016. Quan điểm của anh đề nghị giải quyết theo pháp luật.
Về tài sản và nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc Tòa án thụ lý
vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên Tòa nhưng anh T không đến Tòa án.
Tại phiên Tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Tiền Hải phát biểu ý
kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đều tuân thủ theo quy định của pháp luật và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn anh Đỗ
Văn T. Về quan hệ con chung: Anh T và chị H có bốn con chung là Đỗ Đức H1, sinh ngày 12/4/2001, Đỗ Thị Diễm Q, sinh ngày 31/10/2005, Đỗ Phạm Như N, sinh ngày 22/9/2013 và Đỗ Thanh M, sinh ngày 26/12/2016. Giao con chung Đỗ Đức H1, sinh ngày 12/4/2001 và con Đỗ Phạm Như N, sinh ngày 22/9/2013 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung Đỗ Thị Diễm Q, sinh ngày 31/10/2005 và Đỗ Thanh M, sinh ngày 26/12/2016 cho cị Nguyễn Thị Thúy H trực tiếp nuôi dưỡng.Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau là phù hợp. Về quan hệ tài sản và nợ chung: Không phải giải quyết.Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thúy H phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
Toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Toà.
Về thủ tục tố tụng: Anh Đỗ Văn T là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ
đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên căn cứ vào khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt anh Đỗ Văn T.
Về nội dung vụ án:
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy H và anh Đỗ Văn T có
đăng ký kết hôn năm 2004, tại Ủy ban nhân dân xã N, Huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống giữa anh T và chị H không có sự tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau cùng nhau chia sẻ, thực hiện những công việc trong gia đình. Các bên đều bất đồng về suy nghĩ cũng như lối sống, hành động đều trái ngược nhau, do đó hai bên không quan tâm, không có trách nhiệm và nghĩa vụ với nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 12/2018 đến nay. Anh T không đến Tòa án tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, không có mặt tại phiên Tòa chứng tỏ anh T bỏ mặc, không quan tâm đến chị H thể hiện không thiện chí trong việc cải thiện tình trạng hôn nhân đang mâu thuẫn trong khi chị H xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh T, kiên quyết xin ly hôn anh T. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa anh T và chị H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thúy H, xử cho chị H được ly hôn anh T.
. Về quan hệ con chung: Anh T và chị H có bốn con chung là Đỗ Đức H1,
sinh ngày 12/4/2001, Đỗ Thị Diễm Q, sinh ngày 31/10/2005, Đỗ Phạm Như N, sinh ngày 22/9/2013 và Đỗ Thanh M, sinh ngày 26/12/2016. Nên cần giao cho mỗi người nuôi hai con và hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau là phù hợp.
. Về quan hệ tài sản và nợ chung: Các đương sự đều không yêu cầu nên
Tòa án không phải giải quyết.
. Về án phí: Chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Chị H và anh T đều có quyền kháng cáo theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Khoản 3
điều 228, điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016 án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn anh
Đỗ Văn T
2. Về quan hệ con chung: Xử giao hai con Đỗ Thị Diễm Q, sinh ngày
31/10/2005 và Đỗ Thanh M, sinh ngày 26/12/2016 cho chị Nguyễn Thị Thúy H trực tiếp nuôi dưỡng. Xử giao hai con Đỗ Đức H1, sinh ngày 12/4/2001 và Đỗ Phạm Như N, sinh ngày 22/9/2013 cho anh Đỗ Văn T trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Anh T, chị H có quyền thăm nom con chung. Anh T, chị H có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu.
3. Về quan hệ tài sản và nợ chung: Các đương sự đều không yêu cầu nên Tòa
án không giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thúy H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự
sơ thẩm. Chị H đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0008949 ngày 11 tháng 01 năm 2019 của chi cục Thi hành án dân sự Huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. CH1ển số tiền chị H đã nộp tạm ứng 300.000 đồng sang tiền án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Chị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể
từ ngày tuyên án, anh T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND Huyện Tiền Hải
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự
- UBND xã N.
- PKT Giám đốc.
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Thanh
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - VKSND Huyện Tiền Hải - Các đương sự - UBND xã N. - PKT Giám đốc. - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |