- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị L"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của anh Lê Thanh N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2019/HNGĐ-PT Ngày: 16-4-2019 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Liên.
Các Thẩm phán:
Ông Lê Văn Thường.
Bà Hồ Tuấn Anh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Trường là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định: Bà Võ Thị Lệ Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 06/2019/TLPT-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2019 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 04/2019/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 01 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện PC bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 03/2019/QĐ-PT ngày 27 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị L; cư trú tại: Thôn L, xã C, huyện PC, Bình Định (Có mặt).
- Bị đơn: Anh Lê Thanh N; cư trú tại: Thôn L, xã C, huyện PC, Bình Định (Có mặt).
- Người kháng cáo: Anh Lê Thanh N là bị đơn.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị L và anh Lê Thanh N kết hôn ngày 18/12/2008, trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện PC. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc bình thường cho đến cuối năm 2017 phát sinh mâu thuẫn, từ đầu năm 2018 cho đến nay anh chị sống ly thân, không còn tình cảm, trách nhiệm với nhau. Theo chị L, nguyên nhân do anh N quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác, không có trách nhiệm với gia đình, vợ con, nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn. Chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn, nên yêu cầu được ly hôn anh N. Còn anh N cho rằng do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, lối sống, chị N còn nghi ngờ anh ngoại tình, nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn. Anh thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Chị L, anh N thống nhất có 02 con chung là Lê Trần Bích T, sinh ngày 29/10/2009 và Lê Trần Anh K, sinh ngày 19/7/2014 đang ở chung với anh chị, sức khỏe bình thường. Chị L và anh N đều yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung; chị L yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu 1.000.000đồng/tháng, còn anh N không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu Tòa giải quyết. Còn anh N, trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu Tòa giải quyết, nhưng tại phiên tòa sơ thẩm anh yêu cầu Tòa giải quyết chia nhà, đất tại thôn L, xã C, huyện Phù Cát, Bình Định.
Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2019/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 01 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện PC đã quyết định:
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị L và anh Lê Thanh N.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Lê Trần Anh K, sinh ngày 19/7/2014 cho chị Trần Thị L được trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Lê Trần Bích T, sinh ngày 29/10/2009 cho anh Lê Thanh N trực tiếp nuôi dưỡng. Chị L, anh N không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
3. Về tài sản chung: Chị Trần Thị L không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Tại phiên tòa anh Lê Thanh N yêu cầu giải quyết chia tài sản chung vợ chồng là vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu, nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận. Sau này nếu các bên đương sự có tranh chấp về tài sản
2
chung vợ chồng thì chị L, anh N có quyền khởi kiện vụ án chia tài sản chung sau ly hôn.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và quyền kháng cáo của các bên đương sự.
Ngày 29 tháng 01 năm 2019, bị đơn anh Lê Thanh N kháng cáo một phần quyết định của bản án về con chung, với nội dung: Yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng và đề nghị không chấp nhận kháng cáo của anh N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về nuôi con chung: Anh Lê Thanh N kháng cáo yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung của vợ chồng, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con, nhưng chị L không đồng ý. Thấy rằng: Cha mẹ ly hôn, nhưng vẫn phải có quyền và nghĩa vụ đối với con chung chưa thành niên. Việc giao con chung chưa thành niên cho ai trông nom nuôi dưỡng phải xuất phát từ quyền lợi về mọi mặt của người con. Cả hai anh chị đều có điều kiện nuôi dưỡng con chung như nhau, nhưng cháu K còn nhỏ, lứa tuổi của cháu rất cần sự quan tâm, chăm sóc tỉ mỉ, chu đáo của người mẹ, còn cháu T có nguyện vọng được ở với cha. Án sơ thẩm giao cháu K cho chị L, cháu T cho anh N nuôi dưỡng, không bên nào phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho bên nào, là đảm bảo cho quyền lợi về mọi mặt của các cháu và phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của anh N, giữ nguyên án sơ thẩm về phần này.
Do kháng cáo của anh N không được chấp nhận, nên theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV thì anh N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 282, 293 của Bộ luật tố tụng dân sự thì phần quyết định còn lại của bản án sơ thẩm về quan hệ hôn nhân, chia tài sản chung, án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn không bị kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị không chấp nhận kháng cáo của anh N, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
3
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV. Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của anh Lê Thanh N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
1. Về nuôi con chung:
- Chị Trần Thị L được nuôi dưỡng cháu Lê Trần Anh K, sinh ngày 19/7/2014.
- Anh Lê Thanh N được nuôi dưỡng cháu Lê Trần Bích T, sinh ngày 29/10/2009.
Không bên nào phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng con chung, không bên nào được ngăn cản.
2. Phần quyết định còn lại của bản án sơ thẩm về quan hệ hôn nhân, chia tài sản chung, án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
3. Về án phí: Anh Lê Thanh N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0004190 ngày 29 tháng 01năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện PC, anh N đã nộp đủ.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
4
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Định; - TAND huyện PC; - CC THA dân sự huyện PC; - Các bên đương sự; - Lưu HS vụ án. 5 6 7 8 9 10 11 | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thúy Liên |