vanban.org

Bản án 05/2018/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh Lương Văn B đối với chị Nguyễn Thị Biên T.

Tuyên bố chị Nguyễn Thị Biên T, sinh năm 1990, nơi cư trú cuối cùng: Thôn 5, C, huyện D, tỉnh Đắk Nông mất tích. Về lệ phí: Anh Lương Văn B phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí việc dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng lệ phí việc dân sự sơ th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Việc dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Lương Văn B đối với chị Nguyễn Thị Biên T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK R’LẤP
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/2018/QĐDS-ST
Ngày: 18/4/2018
V/v: “Tuyên bố một người mất tích”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Ngọc Anh - Thẩm phán

Thư ký phiên họp: Bà Lương Thị Xuân - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp tham gia phiên họp: Ông Lê Minh Giáp - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 4 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 111/2017/TLST-VDS ngày 18 tháng 10 năm 2017 về yêu cầu: “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 02/2018/QĐST-VDS ngày 11 tháng 4 năm 2018.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Lương Văn B, sinh năm 1989

Địa chỉ: Thôn 3, xã A, huyện B, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).

2. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:

Anh Lương Văn B và chị Nguyễn Thị Biên T chung sống từ năm 2009, đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện B, tỉnh Đắk Nông. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Trong thời gian chung sống vợ chồng anh thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, cãi vã, nguyên nhân là do không hợp nhau dẫn đến cuộc sống chung không có hạnh phúc. Chị T đã bỏ nhà đi từ ngày 27/3/2012 đến nay không rõ tin tức còn sống hay đã chết. Anh B đã tìm kiếm nhiều nơi mà không có tin tức gì. Anh B đã yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp làm thủ tục thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với chị T.

Nay cần sự có mặt của chị T để giải quyết việc ly hôn giữa chị T và anh B nên anh B làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp: Tuyên bố một người mất tích đối với chị Nguyễn Thị Biên T, sinh năm 1990; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn 5, xã C, huyện D, tỉnh Đắk Nông theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp nhận định:

- Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Theo đơn yêu cầu của anh Lương Văn B yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” đối với chị Nguyễn Thị Biên T, sinh năm 1990, có nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ: Thôn 5, xã C, huyện D, tỉnh Đắk Nông. Vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp theo quy định tại khoản 2 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về thời hiệu yêu cầu: Chị Nguyễn Thị Biên T có đăng ký nhân khẩu thường trú tại xã C, huyện D, nhưng đến ngày 27/3/2012 chị T đã bỏ đi khỏi địa phương, cho đến nay vẫn biệt tích không rõ đi đâu. Điều này đã được Công an xã C xác nhận. Như vậy, thời gian anh B yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đảm bảo theo khoản 2 Điều 387 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ việc: Anh Lương Văn B và chị Nguyễn Thị Biên T có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện B, tỉnh Đắk Nông. Vì vậy mà yêu cầu của anh B là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ hôn nhân gia đình giữa anh B đối với chị T.

Việc chị T bỏ đi khỏi thôn 5, xã C, huyện D, tỉnh Đắk Nông từ tháng 3/2012 không khai báo địa chỉ nơi đến, sự việc này có Ban công an xã C xác nhận. Anh B đã yêu cầu Tòa án làm thủ tục thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú đối với chị T và đến nay đã hết thời hạn đăng tin trên báo và phát tin trên đài nhưng đến nay chị T vẫn biệt tích. Đây là các căn cứ để Tòa án xem xét yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh Bảo đối với chị T.

Từ những nhận định ở trên Tòa án xét thấy cần chấp nhận đơn của anh Lương Văn B yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” đối với chị Nguyễn Thị Biên T, sinh năm 1990, nơi cư trú cuối cùng: thôn 5, C, huyện D, tỉnh Đắk Nông.

Về lệ phí và các chi phí yêu cầu thông báo anh B phải nộp theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 19 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 389; khoản 1 Điều 149 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của anh Lương Văn B đối với chị Nguyễn Thị Biên T.

Tuyên bố chị Nguyễn Thị Biên T, sinh năm 1990, nơi cư trú cuối cùng: Thôn 5, C, huyện D, tỉnh Đắk Nông mất tích.

2. Về lệ phí: Anh Lương Văn B phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí việc dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng lệ phí việc dân sự sơ thẩm anh B đã nộp theo biên lai số 0001352 ngày 17/10/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Đắk Nông.

3. Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ