vanban.org

Bản án 05/2018/KDTM-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ (S)

Buộc bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Đức L có nghĩa vụ thanh toán trả Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền nợ gốc là 600.000.000đồng; tiền lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn còn lại là 171.036.860 đồng. Tổng cộng số tiền nợ gốc và tiền lãi suất bà P và ông L phải trả tính đến ngày xét xử sơ thẩm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ tranh chấp Hợp đồng tín dụng với Bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Đức L"
  • Tòa quyết gì? Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ (S)
  • Căn cứ chính? Điều 323 Bộ luật Dân sự; Điều 10 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP Về giao dịch bảo đảm; Điều 116 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIA LỘC - TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2018/KDTM-ST
Ngày: 26/11/2018
Về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và
hợp đồng thế chấp”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC - TỈNH HẢI DƢƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Minh Yến

Các Hội thẩm nhân dân :

1. Bà Bùi Thị Thúy.

2. Ông Phạm Ngọc Tuân.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ - Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 04/2018/TLST-KDTM ngày 11/9/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2018/QĐST-KDTM ngày 26 tháng 10 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa số ngày 09 tháng 11 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (Tên viết tắt S)

Địa chỉ: A, T, phường P, quận H, thành phố Hà Nội.

- Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn T – Chủ tịch hội đồng quản trị S.`

- Người đại diện theo ủy quyền : Ông Vũ Đình K – Phó tổng giám đốc S (Theo văn bản ủy quyền số 359/2018/QĐ- S ngày 20/4/2018)

- Người được ủy quyền lại: Ông Đinh Quang H – Chuyên viên chính tố tụng - Khối xử lý nợ (Theo văn bản ủy quyền số 8223/2018/ UQ – S).

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1972 và ông Nguyễn Đức L, sinh năm 1963. Đều ở địa chỉ: Số A/B, phố C, khu D, thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1978 và bà Đoàn Thị N, sinh năm 1978. Đều ở địa chỉ: Số E/B, phố C, khu D, thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương.

Tại phiên tòa có mặt ông H, bà N; vắng mặt ông L, bà P, ông T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn Ngân hàngTMCP Đ (Tên viết tắt S) trình bày:

Bà Nguyễn Thị P là hộ kinh doanh cá thể được UBND huyện G, tỉnh Hải Dương cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, ngành nghề kinh doanh: Kinh doanh măng, miến, nước mắm, mì chính, gia vị, bánh kẹo, hàng khô. Do có nhu cầu vay vốn để bổ sung vốn kinh doanh, ngày 27/10/2016 Hộ kinh doanh Nguyễn Thị P do bà Nguyễn Thị P chủ hộ và chồng là ông Nguyễn Đức L là người đồng vay ký Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 1630100009/HĐTD để vay vốn tại S. Hợp đồng tín dụng có nội dung cụ thể như sau: Số tiền vay là 600.000.000đồng, thời hạn vay 12 tháng kể từ ngày 28/10/2016 đến ngày 28/10/2017. Mục đích sử dụng vốn vay: Bổ sung vốn kinh doanh măng, miến, mộc nhĩ, nấm, gia vị, hàng khô. Lãi suất thỏa thuận tại thời điểm vay đến cuối khế ước là 11,5%, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Kỳ trả nợ, trả lãi hàng tháng. gốc trả cuối kỳ. Thực hiện Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số1630100009/HĐTD, S đã giải ngân cho bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Đức L số tiền 600.000.000đồng theo Giấy nhận nợ ngày 28/10/2016, số tiền 600.000.000đồng được chuyển khoản vào tài khoản của bà Đoàn Thị Lê P số tài khoản 32000014237359 mở tại S Thành Đông.

Để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán cho khoản tiền vay của bà P, ông L tại SeABank, ông Nguyễn Văn T và bà Đoàn Thị N đã đồng ý thế chấp tài sản chung của vợ chồng ông T và bà N là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 11, tờ bản đồ số 21, diện tích 166,7m2 đất ở tại thôn H, thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương. giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 687227 do UBND huyện G cấp ngày 21/01/2009 mang tên ông Nguyễn Văn T và bà Đoàn Thị N. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1630100009/HĐTC ngày 27/10/2016 được lập thành văn bản, công chứng tại phòng Công chứng số 1 tỉnh Hải Dương, được đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất phòng Tài Nguyên và Môi trường huyện Gia Lộc. Giá trị tài sản thế chấp được bên thế chấp tài sản và bên nhận thế chấp thống nhất định giá làm tròn là 1.010.000.000đồng theo biên bản định giá tài sản bảo đảm ngày 26/10/2016, giá trị định giá này chỉ có giá trị làm cơ sở xác định mức cho vay tối đa, không có giá trị khi phát mại tài sản.

Căn cứ Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 1630100009/HĐTD ngày 27/10/2016, giấy nhận nợ ngày 28/10/2018, Hợp đồng mua bán hàng hóa giữa bà Nguyễn Thị P và bà Đoàn Thị Lê P, giấy ủy nhiệm chi. Ngày 28/10/2018 S Hải Dương đã giải ngân cho vợ chồng bà P, ông L vay số tiền 600.000.000đồng chuyển khoản vào tài khoản của bà Đoàn Thị Lê P, số tài khoản 32000014237359 mở tại S Thành Đông.

Quá trình thực hiện hợp đồng: Sau khi vay vốn, bên vay vốn bà P đã trả cho S được số tiền là 23.606.547 đồng tiền lãi phát sinh, sau đó bà P không thanh toán trả. Sau thời điểm khoản vay bị quá hạn, S đã nhiều lần đôn đốc yêu cầu bên vay cũng như bên thế chấp tài sản trả nợ, mặc dù có nhiều cam kết trả nợ với S nhưng bên vay vẫn không thực hiện. Do bà P và ông L đã vi phạm nghĩa vụ thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản đã ký với S nên S khởi kiện ra Tòa án:

1. Yêu cầu bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Đức L có nghĩa vụ thanh toán trả Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền nợ gốc 600.000.000đồng và lãi suất theo Hợp đồng tín dụng số 1630100009/HĐTD ngày 27/10/2016, giấy nhận nợ ngày 28/10/2018 cụ thể tính đến ngày xét xử sơ thẩm 26/11/2018 là 771.036.860 đồng, trong đó dư nợ gốc là 600.000.000đồng, lãi trong hạn là 46.351.789, lãi quá hạn 124.685.071 đồng và lãi suất phát sinh tiếp theo từ ngày 27/11/2018 cho đến khi bà P, ông L trả nợ xong.

2. Nếu bà P, ông L không thanh toán trả nợ, Ngân hàng TMCP Đ, yêu cầu xử lý tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của bên thế chấp ông Nguyễn Văn T và bà Đoàn Thị N đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1630100009/HĐTC ngày 27/10/2016 để thu hồi nợ.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 25/9/2018 của bị đơn ông Nguyễn Đức L trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị P là vợ chồng, vợ ông làm nghề kinh doanh buôn bán có giấy phép đăng ký kinh doanh do Phòng Tài chính kế hoạch huyện G cấp ngày 01/02/2014. Thời gian ngày 27/10/2016 vợ chồng ông có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP Đ, chi nhánh Hải Dương vay số tiền là 600.000.000đồng, mục đích sử dụng vốn vay là bổ sung vốn kinh doanh măng, miến, mộc nhĩ, nấm, gia vị, hàng khô; thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày 28/10/2016 đến ngày 28/10/2017; lãi suất vay thỏa thuận tại giấy nhận nợ ngày 28/10/2016 là 11,5%, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn và tính trên phần dư nợ quá hạn (bao gồm cả dư nợ gốc và lãi quá hạn), phạt chậm trả được áp dụng theo quy định của S từng thời kỳ.

Ngày 28/10/2016 Ngân hàng TMCP Đ - chi nhánh Hải Dương đã giải ngân cho vợ chồng ông số tiền vay trên bằng hình thức chuyển vào tài khoản của bà Đoàn Thị Lê P, theo số tài khoản 32000014237359 mở tại S Thành Đông, thể hiện trên giấy nhận nợ số 1630100009.

Khi vợ chồng ông ký hợp đồng tín dụng vay số tiền trên của Ngân hàng S, do vợ chồng ông không có tài sản thế chấp cho Ngân hàng nên vợ chồng ông Nguyễn Văn T và bà Đoàn Thị N (Ông T là em trai bà P, bà N là em dâu bà P) đã đồng ý dùng tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất của vợ chồng ông T, bà N, tại thửa đất số 11, tờ bản đồ số 21, diện tích 166,7m2; địa chỉ thôn H, thị trấn G, huyện G, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL687227 do UBND huyện Gia Lộc cấp ngày 21/01/2009 mang tên ông Nguyễn Văn T và bà Đoàn Thị N. Tài sản trên đã được đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký Quyền sử dụng đất huyện G, được công chứng tại phòng công chứng số 1 để đảm bảo nghĩa vụ thanh thanh toán trả nợ cho Ngân hàng khoản tiền vay 600.000.000đồng của bà P và ông đã vay.

Theo cam kết khi vay vốn, người vay sử dụng vốn vay đúng mục đích, trả nợ lãi và gốc đúng hạn, thực hiện các cam kết theo đúng nội dung thỏa thuận trong hợp đồng. Sau khi vay số tiền trên, vợ ông là người thanh toán trả cho Ngân hàng được bao nhiêu ông không biết vì vợ ông là người trực tiếp kinh doanh buôn bán. Theo như Ngân hàng cung cấp vợ ông đã trả cho Ngân hàng được số tiền là 23.620.870 đồng tiền lãi. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông phải có nghĩa vụ thanh toán trả nợ, cụ thể số tiền Ngân hàng tạm tính đến ngày 25/9/2018, tổng là 751.834.824đồng (Trong đó dư nợ gốc là 600.000.000đ, dư nợ lãi là 151.834.824 đồng), ông hoàn toàn nhất trí, không có ý kiến thắc mắc gì, tuy nhiên do hiện nay vợ ông làm ăn, buôn bán bị thua lỗ nên đã bỏ nhà đi tính đến nay là hơn một năm, hiện vợ ông làm gì, ở đâu cũng không cho ông biết địa chỉ và cũng không liên lạc gì với ông. Do vậy quan điểm của ông đề nghị Ngân hàng xem xét, tạo điều kiện cho gia đình ông mỗi tháng trả nợ Ngân hàng số tiền 6.000.000đồng, thời gian trả nợ bắt đầu từ tháng 01/2019 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ trên. Nếu như vợ chồng ông làm ăn được thì vợ chồng ông sẽ có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng thời gian sớm hơn. Nếu Ngân hàng không đồng ý với quan điểm của ông, Ngân hàng yêu cầu phải xử lý tài sản thế chấp thì ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quan điểm của ông T và bà N.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 18/9/2018 của bà Đoàn Thị N là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn T trước thời điểm tháng 12/2017 là quan hệ vợ chồng. Thời gian ngày 27/10/2016 vợ chồng bà P, ông L ký hợp đồng tín dụng ngắn hạn vay số tiền 600.000.000đồng tại Ngân hàng TMCP Đ – chi nhánh Hải Dương, mục đích vay vốn để bà P làm ăn kinh doanh. Tại thời điểm vay vốn do vợ chồng bà P không có tài sản bảo đảm nên bà và ông T lúc đó còn là vợ chồng đã đồng ý dùng tài sản chung của hai vợ chồng là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 11, tờ bản đồ số 21 diện tích 166,7m2; địa chỉ thửa đất tại thôn H, thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương (Nay là số E/B, phố C, khu C, thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương), giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 687227 do UBND huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương cấp ngày 21/01/2009 mang tên ông T và bà để thế chấp cho S. Sau khi vay vốn của Ngân hàng, do bà P làm ăn thua lỗ không có khả năng thanh toán nên năm 2017 bà P đã bỏ đi khỏi địa phương không cho gia đình biết tin tức địa chỉ. Sau khi bà P bỏ đi, Ngân hàng đã nhiều lần thông báo cho vợ chồng bà mang tiền thanh toán khoản tiền vay của bà P để Ngân hàng giải chấp tài sản của bà và ông T đã thế chấp. Tháng 12/2017 bà và ông T mâu thuẫn, đã được Tòa án giải quyết ly hôn, khi ly hôn tài sản chung của bà và ông T cũng chưa đề nghị giải quyết vì đã mang thế chấp tại Ngân hàng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản vay 600.000.000đồng của bà P và ông L. Do bà P và ông L không thanh toán khoản tiền vay của Ngân hàng, nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà P, ông L thanh toán trả nợ 600.000.000đồng tiền gốc và lãi suất phát sinh của khoản tiền vay theo hợp đồng tín dụng nên bà đề nghị ông L và bà P phải trả tiền cho Ngân hàng trả lại tài sản thế chấp cho bà và ông T. Nếu bà P, ông L không trả tiền vay cho Ngân hàng, Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản chung của bà và ông T đã thế chấp cho Ngân hàng, bà cũng phải đồng ý. Nếu số tiền phát mại tài sản còn thừa thì Ngân hàng trả cho bà và ông T, nếu thiếu thì bà P và ông L phải tiếp tục trả cho Ngân hàng.

Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị P, do bà P vắng mặt tại địa phương nên Tòa án không thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng cho bà P, thân nhân của bà P cũng từ chối nhận các văn bản do Tòa án tống đạt cho bà P nên Tòa án đã làm đầy đủ các thủ tục quy định theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ địa chỉ của bị đơn do nguyên đơn cung cấp được ghi trong Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp tài sản tại thời điểm bà P và ông L giao kết với Ngân hàng để vay vốn, nên mặc dù bà P bỏ đi làm ăn xa nhưng không thông báo địa chỉ cho nguyên đơn cũng như thân nhân của mình biết nên bà P không có bản tự khai, không có quan điểm gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T, sau khi Tòa án thụ lý vụ án, ông T đã được Tòa án tống đạt trực tiếp thông báo về việc thụ lý vụ án và giấy triệu tập của Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, ông T đã biết Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc thụ lý giải quyết vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại nhưng sau đó ông T bỏ nhà đi làm ăn không cho gia đình, địa phương biết địa chỉ nên ông T không có bản tự khai cũng như quan điểm gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Trong quá trình giải quyết vụ án, theo yêu cầu của nguyên đơn, ngày 26/10/2018, Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản ông T và bà N thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1630100009/HĐTC ngày 27/10/2016 thì thấy: Do ông T và bà N đã ly hôn từ tháng 12/2017, tài sản ông T và bà N thế chấp cho Ngân hàng, ông T vẫn quản lý sử dụng nhưng do ông T bỏ nhà đi làm ăn, nhà khóa cổng, khóa cửa nên các thành viên tham gia buổi xem xét thẩm định tại chỗ không vào được bên trong mà phải đứng bên ngoài quan sát để mô tả, tại buổi xem xét thẩm định tại chỗ bà N xác định toàn bộ tài sản nhà đất của bà và ông T từ khi thế chấp cho S đến nay vẫn giữ nguyên hiện trạng không có biến động gì so với thời điểm đăng ký thế chấp cho Ngân hàng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc có quan điểm: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, HĐXX và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đầy đủ quy định về quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà N đã thực hiện quyền nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bà P, ông T không thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hướng giải quyết vụ án:

- Đề nghị áp dụng các Điều 30; 147; 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự, các Điều 116,117, 274, khoản 1 Điều 275, 280, khoản 2 Điều 292,299,317, khoản 1 Điều 318, 319, 320,322, khoản 7 Điều 323 của Bộ luật dân sự năm 2015. Điều 4, Điều 306 Luật thương mại, các Điều 90,91,93,95 Luật các tổ chức tín dụng. Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu , nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (S), buộc ông Lập, bà Phượng phải có nghĩa vụ trả nợ S, số tiền gốc là 600. 000.000đ và tiền lãi phát sinh trong hạn, quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước quy định kể từ ngày xét xử.

- Trường hợp ông L, bà P không thực hiện việc trả nợ thì phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng 166,7 m2 đất ở lâu dài đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 687227, thửa đất số 11, tờ bản đồ số 21; địa chỉ: thôn H, thị trấn G, huyện G, mang tên ông Nguyễn Văn T và bà Đoàn Thị N và tài sản gắn liền trên đất.

* Về án phi

́

+ Ông L, bà P phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, nghe ý kiến trình bày của nguyên đơn, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (S) được phòng đăng ký kinh doanh - Sở kế hoạch đầu tư thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần. Các hoạt động chính của S trong đó có hoạt động cấp tín dụng cho vay. Bà Nguyễn Thị P là Hộ kinh doanh cá thể được Phòng Tài chính – Kế hoạch UBND huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ngày 01/02/2014, ngành nghề kinh doanh: Kinh doanh măng, miến, nước mắm, mì chính, gia vị, bánh kẹo, hàng khô. Ngày 27/10/2016 bà P và ông L ký hợp đồng hạn mức tín dụng ngắn hạn vay Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Hải Dương số tiền 600.000.000đồng mục đích vay, bổ sung vốn kinh doanh măng, miến, mộc nhĩ, nấm, gia vị các loại. Do bà P và ông L không thực hiện nghĩa vụ thanh toán như thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nên Ngân hàng TMCP Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà P và ông L trả nợ tiền gốc, lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận nên theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và điểm b khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Giao dịch dân sự giữa Ngân hàng TMCP Đ với bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Đức L được xác lập trước ngày Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực do bà P và ông L đang phải thực hiện nghĩa vụ thỏa thuận trong hợp đồng giao kết giữa các bên, nội dung và hình thức của Hợp đồng phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 nên HĐXX áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án là phù hợp với điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Bà P và ông L là bị đơn trong vụ kiện có địa chỉ nơi cư trú tại số A/B, phố Cuối, khu C, thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương đã được ghi trong hợp đồng tín dụng. Bà N và ông T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có địa chỉ nơi cư trú tại số C/B, phố C, khu E, thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương đã được ghi trong hợp đồng thế chấp tài sản, hiện nay bà P và ông T bỏ địa chỉ nơi cư trú đi làm ăn nhưng không thông báo địa chỉ mới cho người khởi kiện, cũng như chính quyền địa phương và thân nhân của mình biết, điều đó chứng tỏ bà P và ông T cố tình giấu địa chỉ. Tòa án có công văn xác minh tại cục xuất nhập cảnh – Bộ công an thì thấy trong cơ sở dữ liệu Cục quản lý xuất nhận cảnh quản lý không có thông tin cấp hộ chiếu và xuất nhập cảnh của bà Nguyễn Thị P. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, mặc dù bà P, ông T vắng mặt, Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục chung là có căn cứ. Thân nhân của bà P, ông T đã từ chối nhận các văn bản tố tụng của Tòa án tống đạt cho bà P, ông T, Tòa án đã thực hiện niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đảm bảo thời gian theo quy định tại Điều 176 của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bà P, ông T vẫn vắng mặt. Bị đơn ông L vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, có đơn xin hoãn phiên tòa với lý do chờ bà P về tham gia trình bày quan điểm nguyện vọng trước tòa, việc đề nghị xin hoãn phiên tòa của ông L không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 233 Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà P, ông T, ông L là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

2.1. Xét Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số 1630100009/HĐTD ngày 27/10/2016, giấy nhận nợ ngày 28/10/2018 thì thấy: Ngày 27/010/2016 bà P và ông L ký Hợp đồng tín dụng vay Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Hải Dương số tiền 600.000.000đồng. Trên cơ sở hợp đồng mua bán ngày 20/9/2016 giữa bên bán hàng bà Đoàn Thị Lê P và bên mua hàng bà Nguyễn Thị P và giấy ủy nhiệm chi của bà Nguyễn Thị P, S – Chi nhánh Hải Dương đã giải ngân số tiền 600.000.000đồng chuyển vào tài khoản số 32000014237359 của bà Đoàn Thị Lê P mở tại S - Chi nhánh Hải Dương. Tại thời điểm giao kết hợp đồng giữa bên cho vay vốn S – Chi nhánh Hải Dương và bên vay vốn vợ chồng bà P, ông L thực hiện trên cơ sở tự nguyện, nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp quy định tại các Điều 116, Điều 117 của Bộ luật dân sự; các Điều 90, 91, 93, 95 Luật các tổ chức tín dụng nên có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng.

Đối chiếu với các điều khoản trong hợp đồng tín dụng ngắn hạn, giấy nhận nợ cũng như quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, bên vay bà P đã thanh toán trả S số tiền 23.620.870 đồng tiền lãi, ngoài ra bà P và ông L không trả Ngân hàng được đồng nào. Như vậy bà P và ông L đã vi phạm thời hạn trả nợ theo thỏa thuận tại Điều 5 và Điều 6 của Hợp đồng tín dụng và nội dung cam kết của bên vay trong giấy nhận nợ. Bị đơn ông Nguyễn Đức L xác định khoản tiền vợ ông là bà P và ông đồng đứng tên vay 600.000.000đồng của S là đúng, tuy nhiên do vợ ông làm ăn thua lỗ, mất khả năng thanh toán, hiện đã bỏ nhà đi làm ăn kinh tế để kiếm tiền trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông phải thanh toán tiền nợ gốc và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng, ông không có ý kiến gì. Ông L đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện cho gia đình ông từ tháng 01/2019 mỗi tháng trả Ngân hàng 6.000.000đồng nhưng người đại diện theo ủy quyền lại của S không nhất trí bởi lẽ khoản tiền vay đã quá hạn nhưng bên vay không thanh toán trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà P và ông L phải thanh toán trả nợ để Ngân hàng thu hồi vốn là có căn cứ.

Theo các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp về thông tin dư nợ đối với khoản tiền vay của bà P và ông L và phải trả cụ thể: Số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (26/11/2018) bao gồm nợ gốc 600.000.000đồng; tiền lãi suất trong hạn là 46.351.789 đồng, lãi suất quá hạn là 124.685.071 đồng. Tổng cộng số tiền nợ gốc và tiền lãi suất bà P, ông L phải trả là 771.036.860 đồng. Bà P và ông L còn phải trả lãi phát sinh tiếp theo từ ngày 27/11/2018 đến ngày bà P, ông L trả hết số nợ gốc còn lại cho S với lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng hạn mức tín dụng ngắn hạn. Yêu cầu của S có căn cứ nên buộc bà P và ông L phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền trên cho S là phù hợp pháp luật.

2.3. Xét hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất thì thấy: Để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán khoản tiền vay của bà P và ông L, ông Nguyễn Văn T và bà Đoàn Thị N đã đồng ý dùng tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân để thế chấp cho bên nhận thế chấp Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Hải Dương bằng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 1630100009/HĐTC ngày 27/10/2016. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng tại Văn phòng công chứng số 1, tỉnh Hải Dương, tài sản thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Gia Lộc) đảm bảo đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 323 của Bộ luật dân sự; Điều 10 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm thì việc thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký giao dịch bảo đảm. Như vậy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1630100009/HĐTC ngày 27/10/2016 có giá trị pháp lý kể từ thời điểm Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất - Phòng Tài nguyên và môi trường huyện Gia Lộc chứng nhận đăng ký thế chấp ngày 27/10/2016. Căn cứ hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1630100009/HĐTC ngày 27/10/2016 thì tài sản ông T và bà N thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán khoản tiền vay của hợp đồng tín dụng là quyền sử dụng diện tích 166,7m2 đất ở, tại thửa đất số 11, tờ bản đồ số 21, địa chỉ thửa đất: Thôn H, thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương (Nay là số C/B, phố C, khu D, thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương), tài sản gắn liền với đất công trình nhà bê tông cốt thép 2,5 tầng, diện tích xây dựng 60m2 (Theo biên bản định giá tài sản bảo đảm ngày 26/10/2016). Bên thế chấp tài sản và bên nhận thế chấp tài sản thỏa thuận định giá trị giá 1.010.000.000đồng, việc định giá chỉ làm cơ sở xác định mức cho vay tối đa, không có giá trị khi phát mại tài sản. Đối chiếu với quy định của pháp luật thì Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1630100009/HĐTC ngày 27/10/2016 có nội dung, hình thức phù hợp quy định của pháp luật nên có giá trị pháp lý, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên, khi đến thời hạn trả nợ bên vay vốn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì S được quyền xử lý một phần hoặc toàn bộ tài sản thế chấp và thực hiện các quyền của S theo quy định tại Điều 7 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất và quy định tại các Điều 299, Điều 323 Bộ luật dân sự và Điều 4 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 được sửa đổi bổ sung tại Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm .

Căn cứ quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng số1630100009/HĐTC ngày 27/10/2016 thì bà P và ông L không thanh toán trả nợ tiền gốc và tiền lãi đúng hạn cho Ngân hàng đã vi phạm quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Do vậy nếu bà P và ông L không thanh toán trả nợ, S có quyền yêu cầu xử lý tài sản của ông T và bà N đã thế chấp để thu hồi nợ là phù hợp quy định tại Điều 7 của hợp đồng thế chấp đã ký kết giữa ông T và bà N với S là có căn cứ. Mặc dù hiện nay ông T và bà N đã được Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc giải quyết ly hôn tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 192/2017/QĐST- HNGĐ ngày 01/12/1997, tại thời điểm vợ chồng ông T và bà N ly hôn, vợ chồng ông T và bà N có tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 11 tờ bản đồ số 21; địa chỉ thửa đất: Thôn H, thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương (Nay là số C/B, phố C, khu D, thị trấn G , huyện G, tỉnh Hải Dương) nhưng ông T, bà N đã thế chấp tại Ngân hàng TMCP Đ để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán khoản vay 600.000.000đồng của bà P, ông L nên khi giải quyết vụ án ly hôn, ông T, bà Ng cũng chưa có yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung. Do vậy nếu bà P và ông L không thanh toán trả nợ, ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản ông T và bà N thế chấp, số tiền bán tài sản còn thừa sẽ trả lại cho ông T và bà N để hai bên tự phân chia nếu thiếu thì bà P, ông L phải trả nợ tiếp cho đến khi thanh toán xong khoản tiền vay theo hợp đồng tín dụng là phù hợp pháp luật.

Về án phí: Bị đơn bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Đức L có nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng TMCP Đ số tiền gốc, lãi tính đến ngày 26/11/2018 là 771.036.860 đồng nên phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm kinh doanh thương mại cụ thể số tiền án phí bà P và ông L phải chịu là 20.000.000đ + (371.036.860đồng x 4%) = 34.841.500đồng. Yêu cầu của nguyên đơn S được chấp nhận nên không phải chịu tiền án phí sơ thẩm kinh doanh thương mại, hoàn lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 30; 147; 271, 273, khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 116,117, 274, khoản 1 Điều 275, Điều 280, khoản 2 Điều 292, Điều 299,317, khoản 1 Điều 318, Điều 319, 320, 322, khoản 7 Điều 323 của Bộ luật dân sự năm 2015. Điều 4, Điều 306 Luật thương mại; các Điều 90, 91, 93, 95 Luật các tổ chức tín dụng. Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

1. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ (S)

Buộc bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Đức L có nghĩa vụ thanh toán trả Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền nợ gốc là 600.000.000đồng; tiền lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn còn lại là 171.036.860 đồng. Tổng cộng số tiền nợ gốc và tiền lãi suất bà P và ông L phải trả tính đến ngày xét xử sơ thẩm 26/11/2018 là 771.036.860 đồng và phải tiếp tục chịu lãi hàng tháng trên số nợ gốc chưa thanh toán theo hợp đồng tín dụng đã ký đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ gốc.

2. Về xử lý tài sản bảo đảm: Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Đức L, không thực hiện nghĩa vụ thanh toán trả số nợ trên thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự huyện Gia Lộc, tiến hành phát mại tài sản của ông Nguyễn Văn T và bà Đoàn Thị N đã thế chấp để thu hồi nợ gồm: Quyền sử dụng diện tích 166,7m2 đất ở, thửa đất số 11, tờ bản đồ số 21; địa chỉ thửa đất: Thôn H, thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương (Nay là số C/B, phố C, khu D, thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương), giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 687227 do UBND huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương cấp ngày 21/01/2009 mang tên ông Nguyễn Văn T và bà Đoàn Thị N, tài sản gắn liền với đất công trình nhà bê tông cốt thép 2,5 tầng, diện tích xây dựng 60m2. Nếu phát mại tài sản thế chấp không đủ để thanh toán nghĩa vụ trả nợ thì bà P, ông L tiếp tục phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền còn thiếu, nếu thừa thì trả lại cho ông T và bà N.

3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Đức L phải chịu 34.841.500 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền 16.473.000đồng tạm ứng án phí, theo biên lai thu số AB/2017/0003413 ngày 07/9/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gia Lộc.

4. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười năm ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Đoàn Thị N có quyền kháng cáo về phần có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn – ông Nguyễn Đức L và bà Nguyễn Thị P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo bản án về phần có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Áp dụng Điều 26 Luật thi hành án dân sự:“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”

Cỡ chữ