- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Đình B - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương Đình B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B án số: 05/2018/HS-ST Ngày 15/3/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Quý Sáng
Ông Đoàn Thế Xương
- Thư ký Toà án ghi biên B phiên toà: Bà Lê Thị Dần – Thư ký Toà
án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai
tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 3 năm 2018, tại nhà văn hóa tổ dân phố 6B1, thị trấn
Phố Ràng, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2018/HSST, ngày 06/02/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:
Trương Đình B (tên gọi khác: không) - Sinh ngày 12/7/1974 tại Bảo
Yên, Lào Cai. Nơi cư trú: B Bùn 2, xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Đình Trường (đã chết) và bà Nguyễn Thị Vân; có vợ là Nguyễn Thị Thái và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 03/01/2018, bị tạm giam từ ngày 06/01/2018. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai - có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
Người chứng kiến: Anh Trần Văn Nhật - sinh năm 1963, trú tại: B
Liên Hà 4 , xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai – (đã triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 8 giờ ngày 03/01/2018, Trương Đình B đi bộ từ nhà đến trạm y tế xã Bảo Hà để uống thuốc hỗ trợ cai nghiện ma túy, sau khi uống xong, B vẫn thấy thèm ma túy nên đã đi xe ôm sang khu vực bờ kè xã Tân An, huyện Văn Bàn để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi sang đến nơi, B nhìn thấy một số đối tượng nghiện ma túy đang ngồi ở khu vực đó, B bảo xe ôm dừng xe lại ở lề đường đợi và đi đến chỗ mấy đối tượng nghiện hỏi “Chúng mày hay mua hàng chỗ nào” thì một người đàn ông trả lời “Ra chỗ bà già ở bờ kè mà mua” đồng thời người này chỉ tay về hướng có người phụ nữ khoảng 50 tuổi, dáng thấp gầy đang đứng chờ. B đi đến gần và hỏi “Chị có bán hàng không để lại cho em hai trăm” người đó trả lời “Có, đưa tiền đây chị bán cho” B liền lấy từ túi quần phải đưa cho người phụ nữ 200.000đ, người phụ nữ cầm tiền cất đi sau đó lấy từ túi áo khoác bên phải ra đưa cho B 01 gói ma túy được gói bằng nilon màu đen. B cầm gói ma túy cất vào túi quần phía trước bên phải rồi đi bộ đến chỗ người đi xe ôm bảo chở về Bảo Hà. Khi về đến đầu cầu sắt xã Bảo Hà thì B trả người đi xe ôm 50.000đ rồi đi bộ về nhà, trên đường đi đến khu vực B Liên Hà 1, xã Bảo Hà thì Công an Đồn xã Bảo Hà đã yêu cầu B về trụ sở để kiểm tra. Tại đây, Trương Đình B đã tự giác lấy gói ma túy từ túi quần phải mang giao nộp và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại kết luận giám định số 34/GĐMT ngày 05/01/2018 của Phòng
KTHS Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: 01 gói chất bột khô màu trắng thu giữ của Trương Đình B ngày 03/01/2018 có khối lượng 0,26 gam là Hêrôin.
B Cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 05/02/2018 của Viện kiểm sát nhân
dân huyện Bảo Yên đã truy tố bị cáo Trương Đình B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 khoản 1 điểm c Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Trương Đình B thừa nhận toàn bộ hành vi tàng
trữ ma túy của mình như kết luận điều tra của cơ quan điều tra và B cáo trạng viện kiểm sát đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên giữ quyền công tố
luận tội và tranh luận tại phiên tòa. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trương Đình B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù; tuyên xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật. Về hình phạt bổ sung: do bị cáo không có việc làm, không có thu nhập và tài sản riêng nên không đề nghị áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Sau khi kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội
đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện Bảo
Yên, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra huyện Bảo Yên, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo Trương Đình B không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về xác định tội phạm và áp dụng pháp luật: Khoảng 8 giờ ngày
03/01/2018, Trương Đình B đã sang khu vực bờ kè xã Tân An, huyện Văn Bàn để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi sang đến nơi, B đã đưa cho một người phụ nữ 200.000đ, người phụ nữ đưa cho B 01 gói ma túy được gói bằng nilon màu đen. B cầm gói ma túy cất vào túi quần phía trước bên phải rồi đi bộ đến chỗ người đi xe ôm bảo chở về Bảo Hà. Khi về đến đầu cầu sắt xã Bảo Hà thì B trả người đi xe ôm 50.000đ rồi đi bộ về nhà, trên đường đi đến khu vực B Liên Hà 1, xã Bảo Hà thì Công an Đồn xã Bảo Hà đã yêu cầu B về trụ sở để kiểm tra. Tại đây, Trương Đình B đã tự giác lấy gói ma túy từ túi quần phải mang giao nộp và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Tại kết luận giám định số 34/GĐMT ngày 05/01/2018 của Phòng KTHS Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: 01 gói chất bột khô màu trắng thu giữ của Trương Đình B ngày 03/01/2018 có khối lượng 0,26 gam là Hêrôin.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai
của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên B bắt phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên B ghi lời khai của người chứng kiến cũng như các lời khai khác có trong hồ sơ. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trương Đình B đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên truy tố đối với bị cáo Trương Đình B về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.
Về tính chất mức độ hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự: Bị cáo nhận thức rất rõ về rõ tác hại của ma túy và chế độ độc quyền, thống nhất quản lý chất ma túy của Nhà nước nhưng vẫn thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với trọng lượng 0,26gam. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của chính B thân bị cáo, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Tòa xét thấys, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan
điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai nhận tội; ngoài ra, ông nội là ông Trương Đình Ký đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo Trương Đình B
còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Nhưng do bị cáo không có công việc, không có thu nhập và tài sản nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về việc xử lý vật chứng: Đối với số ma túy có trọng lượng (khối
lượng) 0,26 gam là Hêrôin, cơ quan điều tra đã trích mẫu 0,06 gam Hêrôin giám định và không hoàn lại, còn hoàn lại 0,20 gam Hêrôin được niêm phong trong bì thư in sẵn của Phòng KTHS Công an tỉnh Lào Cai cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án này, còn có người đàn ông chỉ chỗ bán ma túy và người
phụ nữ bán ma túy cho Trương Đình B do chưa làm rõ được thông tin nên Công an huyện Bảo Yên tiếp tục điều tra xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trương Đình B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1
và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trương Đình B 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 03/01/2018.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình
sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 0,20 gam Hêrôin được niêm phong trong bì thư in sẵn của Phòng KTHS Công an tỉnh Lào Cai. Trên một mặt của phong bì niêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ Trương Đình B có hành vi phạm tội về ma túy”. Phát hiện (thu giữ) ngày 03/01/2018 tại Đồn công an Bảo Hà, xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai”.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng
hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án buộc bị cáo Trương Đình B phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm..
Trường hợp B án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo Trương Đình B được quyền kháng cáo B án trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - Sở tư pháp tỉnh Lào Cai; - VKSND huyện Bảo Yên; - Công an huyện Bảo Yên; - Chi cục THADS huyện Bảo Yên; - Cơ quan THAHS huyện Bảo Yên; - Bị cáo; - Lưu: hồ sơ; tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Hoàng Tùng |