- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đơn xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lương Thị V và ông Triệu Văn C.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2018/HNGĐ-ST Ngày 25-5-2018 V/v Xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN
- Tthành phần Hội đồng xét xử (HĐXX) sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Châu Kha;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ksor Y Thư;
2. Bà Bùi Thị Lừng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bàn Thị Tiên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Minh, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh. Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/2018/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2018 tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa ra xét xử số 05/2018/QĐXX-ST ngày 16/5/2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lương Thị V, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn Tân Lập, xã Ealy, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Triệu Văn C, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn Tân Lập, xã Ealy, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên (ông C đang thi hành án phạt tù tại Trại giam Xuân Phước thuộc Tổng cục VIII – Bộ Công an). Vắng mặt (ông C có đơn đề nghị xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 01/4/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lương Thị V trình bày:
Về hôn nhân: Bà V và ông C tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 01/8/2004 tại Ủy ban nhân dân xã Ealy, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên. Sau khi kết hôn vợ chồng sống không hạnh phúc, lý do ông C nhiều lần đánh đập bà V, nhưng vì con bà V đã cố chịu đựng giữ hạnh phúc gia đình. Đến tối ngày 12/9/2011 do nghi ngờ bà V ngoại tình nên ông C đã nảy sinh ý định và có hành vi giết bà V, được người nhà can ngăn nên bà V thoát chết. Với tội danh này, ông C đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phạt 10 năm tù về tội giết người và 02 năm tù về tội cố ý gây thương tích. Hiện nay ông C đang thi hành án Trại giam Xuân Phước thuộc Tổng cục VIII – Bộ Công an trụ sở tại xã Xuân Phước, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Nay bà V thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông C. Về con chung: Bà V và ông C có 01 con chung tên: Triệu Đình V, sinh ngày 14/12/2006. Khi ly hôn bà V có nguyện vọng xin được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai có tại hồ sơ bị đơn Triệu Văn C trình bày: Ông C và bà V tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn năm 2004 tại Ủy ban nhân dân xã Ealy, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên. Nay bà V làm đơn ly hôn ông C cũng đồng ý. Con chung có 01 con chung tên Triệu Đình V, sinh ngày 14/12/2006, ông C thống nhất giao con cho bà V nuôi dưỡng. Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, tại biên bản hòa giải ngày 16/5/2018 ông C khai bổ sung không còn đồng ý ly hôn như lời khai ban đầu trình bày trong bản tự khai ngày 16/5/2018.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Lương Thị V vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện xin ly hôn với ông Triệu Văn C.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh phát biểu: Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý vụ án, việc tuân theo pháp luật về giải quyết xét xử án hôn nhân và gia đình của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia phiên tòa và phiên tòa diễn ra đúng trình tự, thủ tục tố tụng. Về nội dung: Ông C và bà V tự nguyện đăng ký kết hôn năm 2004 tại Ủy ban nhân dân xã Ealy và có 01 con chung tên Triệu Đình V nhưng cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, thường xuyên mâu thuẫn dẫn đến việc ông C dùng dao đâm bà V. Tình trạng hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà V. Con chung: có 01 con tên Triệu Đình V, bà V có nguyện vọng nuôi con và Triệu Đình V cũng có nguyện vọng ở với mẹ; xét ông C đang thi hành án không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao Triệu Đình V cho bà V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa HĐXX xét thấy:
Về thủ tục tố tụng: Bà Lương Thị V có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh giải quyết ly hôn với ông Triệu Văn C sinh năm 1974, địa chỉ: thôn Tân Lập, xã Ealy, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên là tranh chấp về hôn nhân thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lương Thị V và ông Triệu Văn C tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 01/8/2004 tại Ủy ban nhân dân xã Ealy, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên trên cơ sở tự nguyện là hôn nhân hợp pháp, được nhà nước thừa nhận. Sau khi kết hôn vợ chồng sống không hạnh phúc, thường xuyên mâu thuẫn dẫn đến việc ông C có hành vi dùng dao giết bà V. Ông C đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xử phạt 10 năm tù về tội giết người và 02 năm tù về tội cố ý gây thương tích, hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam Xuân Phước thuộc Tổng cục VIII – Bộ Công an. Việc bà V yêu cầu ly hôn, mặc dù lúc đầu ông C đồng ý nhưng sau đó bổ sung thay đổi lời khai không đồng ý ly hôn với bà V. Tuy nhiên, HĐXX xét thấy nguyện vọng xin ly hôn của bà V là chính đáng do ông C không còn thương yêu bà V, xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của bà V (cụ thể có hành vi dùng dao nhọn đâm nhiều nhát vào người bà V) và bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử tổng cộng 12 năm tù (tính từ ngày 27/10/2011), hiện đang chấp hành án. Bà V thấy không còn tình cảm gì với ông C.
Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận cho ly hôn giữa bà Lương Thị V và ông Triệu Văn C.
ơ
Về con chung: Bà V và ông C có 01 con chung: Triệu Đình V, sinh ngày 14/12/2006 (hiện đang học lớp 5 Trường Tiểu học Tân Lập). Theo bản tự khai ngày 16/5/2018 Triệu Đình V có nguyện vọng được ở với mẹ để có điều kiện được chăm sóc, học hành và bản tự khai ngày 16/5/2018 ông C cũng thống nhất giao Triệu Đình V cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng. Tại phiên tòa bà V cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi Triệu Đình V và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét nguyện vọng của bà V, Triệu Đình V và ý kiến của ông C là hoàn toàn tự nguyện, xét điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục Triệu Đình V của bà V tốt hơn. Do đó, căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 công nhận sự thỏa thuận của các bên.
Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Bà Lương Thị V là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lương Thị V và ông Triệu Văn C.
2. Con chung: Giao Triệu Đình V, sinh ngày 14/12/2006 cho bà Lương Thị V tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Nếu ông C lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà V có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của ông C.
3. Về án phí: Bà Lương Thị V phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà V đã nộp tạm ứng tại biên lai số 0008220 ngày 11/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Hinh. Bà V đã thi hành xong.
Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Phú Yên; - VKSND huyện Sông Hinh; - VKSND tỉnh Phú Yên; - Chi cục THADS huyện Sông Hinh; - UBND xã (thị trấn) nơi đăng ký kết hôn; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. HỘI THẨM NHÂN DÂN Bùi Thị Lừng Ksor Y Thư | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa BÙI CHÂU KHA THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Châu Kha |