- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh NTD, cho anh NTD được ly hôn chị NTT.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2018/HNGĐ-ST Ngày: 03/5/2018. V/v tranh chấp hôn nhân gia đình. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thanh Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Tu.
2. Bà Nguyễn Thị Xuân Hương.
- Thƣ ký phiên tòa: Ông Phạm Như Hoàng Hải – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hoài Đức - Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức – Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 5 năm 2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hoài Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2018/TLST - HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2018 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/4/2018, giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Anh NTD, sinh năm 1977; HKTT: Đội 9, xã CQ, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
Có mặt tại phiên tòa.
*Bị đơn: Chị NTT, sinh năm 1979; HKTT: Đội 9, xã CQ, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Hiện ở tại: Thôn QD, xã HĐ, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại Đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn là anh NTD trình bày:
1. Về quan hệ hôn nhân:
Anh và chị NTT kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 19/01/1997 tại UBND xã CQ, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mẫu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, không thể nói chuyện cùng nhau. Do mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung lúc nào cũng căng thẳng, nên anh và chị T đã sống ly thân nhiều năm nay.
Nay anh xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng không thể hàn gắn được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn chị T.
2 .Về con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung là cháu NTD, sinh ngày 23/7/1998, đã thành niên và có khả năng lao động.
3. Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
*Tại Biên bản lấy lời khai ngày 11/01/2018 và quá trình tố tụng, bị đơn là chị NTT trình bày:
Chị và anh NTD kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 19/01/1997 tại UBND xã CQ, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mẫu thuẫn. Vợ chồng đã sống ly thân hơn một năm nay.
Nay anh D xin ly hôn, chị xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng không thể hàn gắn được nên đồng ý ly hôn anh D.
Tuy nhiên, sau đó tại Đơn đề nghị ngày 22/01/2018, chị T xác định thay đổi lời khai và không đồng ý ly hôn anh NTD.
2.Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là NTD, sinh ngày 23/7/1998, đã thành niên, có khả năng lao động.
3. Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình Tòa giải quyết vụ án chị NTT có đơn gửi Tòa án đề ngày 22/01/2018, nội dung đơn xin thay đổi lời khai, tuy nhiên mặc dù được Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức và Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng chị T không đến làm việc, không cung cấp quan điểm cho Tòa án.
*Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức phát biểu ý kiến:
* Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
* Ý kiến giải quyết vụ án:
Quá trình điều tra thu thập chứng cứ đã chứng minh được mâu thuẫn giữa anh D và chị T tới mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, xét cho anh D được ly hôn chị T là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Anh D và chị T có 01 con chung là cháu NTD, sinh ngày 23/7/1998, đã thành niên, có năng lực hành vi dân sự và khả năng lao động. Vì vậy không xem xét giao cho ai nuôi dưỡng khi giải quyết ly hôn.
Về tài sản chung: Anh NTD và chị NTT không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là “Tranh chấp về ly hôn”, chị NTT có HKTT tại xã CQ, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, hiện nay chị T đang sinh sống tại xã Hoài Đức, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, chị T có đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội giải quyết vụ án. Căn cứ Điểm b, Khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Chị NTT có đề nghị giải quyết vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T là đúng quy định tại Khoản 2, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về nội dung:
. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Anh NTD và chị NTT kết hôn ngày 19/01/1997, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã CQ, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Anh D và chị T đã sống ly thân nhiều năm nay. Quá trình giải quyết vụ án, chị T cũng đồng ý ly hôn, tuy nhiên sau đó chị Thay đổi lời khai nhưng từ chối đến Tòa án làm việc. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ chị T đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị T vắng mặt. Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về tình nghĩa vợ chồng thì: "Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác". Như vậy hiện tại anh D và chị T đã sống ly thân và đều không thực hiện đúng nghĩa vụ vợ chồng. Bản thân chị T không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra được biện pháp cải thiện quan hệ vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn giữa anh D và chị T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét cho anh D được ly hôn chị T là phù hợp quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
. Về con chung: Anh NTD và chị NTT có 01 con chung là cháu NTD, sinh ngày 23/7/1998, xét cháu Dương đã thành niên, có năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giao cho ai nuôi dưỡng khi giải quyết ly hôn.
. Về tài sản chung: Anh NTD và chị NTT không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Anh NTD phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào các Điều 28; 35; Điểm b, Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ vào Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội Khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh NTD, cho anh NTD được ly hôn chị NTT.
2. Về con chung: Anh NTD và chị NTT có 01 con chung là cháu NTD, sinh ngày 23/7/1998.
3. Về tài sản chung: Ghi nhận anh NTD và chị NTT không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Anh NTD phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007853 ngày 04 tháng 01 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Anh D đã nộp đủ án phí dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND TP. Hà Nội;
- VKSND huyện Hoài Đức;
- Chi cục THADS huyện Hoài Đức;
- UBND xã CQ;
- Các đương sự;
- Lưu Hồ sơ vụ án.
Phạm Thanh Hải
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - VKSND huyện Hoài Đức; - Chi cục THADS huyện Hoài Đức; - UBND xã An Thượng; - Các đương sự; - Lưu Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thanh Hải Nguyễn Hữu Huấn |