vanban.org

Bản án 05/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị L - Nguyễn Ngọc A"
  • Căn cứ chính? luật tố tụng dân sự Tòa án; Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DI LINH
NH L M ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2018/HNGĐ-ST.
Ngày: 26/01/2018.
V/v: Xin ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆ NAM

ÒA ÁN NH N D N HUYỆN DI LINH - NH L M ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đới Văn Học.

Các hội thẩm nhân dân:

1) Ông Lê Văn Chân.

2) Bà Trần Thị Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông K’ My Na – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh tham gia phiên tòa: Bà My La – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Xét sử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 246/2017/TLST- HNGĐ ngày 08/11/2017 về việc: “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/12/2017. Giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L; sinh năm 1984. Địa chỉ: Số 20 thôn 4, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc A; sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn 7, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

Bà L có mặt tại phiên tòa, ông A vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai và lời trình bày tại phiên tòa hôm nay, bà Nguyễn Thị L trình bày: Bà và ông A tự nguyện kết hôn năm 2005, đăng ký kết hôn tại UBND xã H. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng sống không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm, cãi nhau và đánh chửi nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8/2017 đến nay. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn. Đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thanh T, sinh ngày 20/3/2006 và Nguyễn Thanh T, sinh ngày 28/12/2007. Khi ly hôn bà xin trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung, không yêu cầu ông A phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Vợ chồng tự thỏa thuận chia tài sản chung; tài sản cho vay chung và tài sản nợ chung không có. Khi ly hôn không yêu cầu giải quyết về tài sản.

Theo lời khai, ông Nguyễn Ngọc A trình bày: Công nhận lời trình bày của bà L về quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản như trên là đúng.

Vợ chồng mâu thuẫn và đã sống ly thân từ tháng 8/2017 đến nay. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà L.

Về con chung, khi ly hôn ông đồng ý giao các con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng.

Về tài sản, vợ chồng tự thỏa thuận chia tài sản chung; tài sản cho vay chung và tài sản nợ chung không có. Khi ly hôn không yêu cầu giải quyết về tài sản.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của H i đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị H i đồng xét xử xem xét chấp nhận cho bà L và ông A được ly hôn, Giao con chung tên Nguyễn Thanh T, sinh ngày 20/3/2006 và Nguyễn Thanh T, sinh ngày 28/12/2007 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, ông A không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản, bà Loan chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA ÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu và xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát. H i đồng xét xử nhận định:

[1] Tại phiên tòa hôm nay, ông A là bị đơn vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triêu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 B luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông A tự nguyện kết hôn năm 2005, đăng ký kết hôn tại UBND xã H. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng sống không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm, cãi nhau và đánh chửi nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8/2017 đến nay, hiện nay tình cảm vợ chồng không còn. Bà L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, ông A cũng thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn và đã sống ly thân, đồng ý lý hôn theo yêu cầu của bà L nhưng lại không đến Tòa án để hòa giải và tại phiên tòa hôm nay cũng vắng mặt. Xét mâu thuẫn giữa bà L và ông A đã đến mức trầm trọng, cu c sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử cho bà L được ly hôn ông A là phù hợp.

[3] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thanh T, sinh ngày 20/3/2006 và Nguyễn Thanh T, sinh ngày 28/12/2007. Khi ly hôn bà L xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung, không yêu cầu ông A phải cấp dưỡng nuôi con, ông A cũng đồng ý giao các con cho bà L nuôi dưỡng và các con cũng đều có nguyện vọng muốn được ở với mẹ. Xét quyền lợi mọi mặt của con, khả năng nuôi dưỡng con và sự thỏa thuận của các bên. Căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 và 116 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Giao các con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, ông A không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung là phù hợp.

[4] Về tài sản, vợ chồng đã tự thỏa thuận chia tài sản chung; tài sản nợ chung và tài sản cho vay chung không có. Khi ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản nên không đề cập giải quyết.

[5] Về án phí: Căn cứ Điều 144; Điều 147 B luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc h i về án phí, lệ phí Tòa án. Bà Loan phải chịu 300.000đ án phí DSST xin ly hôn là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾ ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 144; Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 B luật tố tụng dân sự.

Điều 56; 81; 82; 83; 84 và 116 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc h i về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1) Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Ngọc A được ly hôn.

2) Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thanh T, sinh ngày 20/3/2006 và Nguyễn Thanh T, sinh ngày 28/12/2007 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng;

Ông A không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được ngăn cản.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của m t bên hoặc cả hai bên. Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi.

3) Về án phí: Bà L chịu 300.000đ án phí DSST xin ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã n p 300.000đ theo biên lai thu số 0003109 ngày 08/11/2017 của Chi cục THA dân sự huyện Di Linh. (bà L đã n p đủ án phí).

Trong hạn 15 ngày kề từ ngày tuyên án hôm nay, các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ