vanban.org

Bản án 05/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Buộc Công ty TNHH đầu tư D H có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Thanh T số tiền 111.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thanh toán tiền thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất do chậm trả tiền của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "T - Công ty D H"
  • Tòa quyết gì? Buộc Công ty TNHH đầu tư D H có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Thanh T số tiền 111.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHÚC YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05 /2018/DS -ST
Ngày 19/4/2018
“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚC YÊN- TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Thanh Tâm

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hân và bà Phan Thị Nhung

Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Văn Bích – Thư ký TAND thị xã Phúc Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phúc yên tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 19 tháng 4 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phúc Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 09/2018/TLST- DS, ngày 15 tháng 3 năm 2018 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2018/QĐXXST - DS ngày 02 tháng 4 năm giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1956 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ 1, cụm 2, k95, phường P, quận Ba Đình, TP. Hà Nội.

Bị đơn: Công ty TNHH đầu tư D H

Địa chỉ: Tổ 14, phường T, thị xã P, tỉnh Vĩnh Phúc.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Văn Đ – Giám đốc công ty (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị Thanh T: Bà Trần Thị Ngân – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 29 tháng 11 năm 2017, bản tự khai, quá trình hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T trình bày như sau:

Ngày 30/12/2015, bà có cho Công ty TNHH đầu tư D H do ông Đào Văn Đ làm Giám đốc vay vay số tiền 160.000.000đồng với lãi suất là 6%/năm để làm vốn kinh doanh vàng bạc. Sau khi vay Công ty đã trả nợ gốc cho bà nhiều lần tổng cộng tính đến hết ngày 14/10/2016 đã trả được 56.300.000đồng. Nay bà đề nghị Công ty TNHH đầu tư D H trả cho bà số tiền nợ còn lại là 103.700.000đồng và tiền lãi từ ngày 15/10/2016 đến ngày 14/3/2018 là 8.296.000đồng.

Bà Trần Thị Ngân trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T. Thống nhất quan điểm trình bày của bà T đề nghị Công ty TNHH đầu tư D H trả ngay số tiền nợ gốc là 103.700.000đồng và tiền lãi là 8.296.000đồng cho bà T.

Tại bản tự khai ngày 21 tháng 3 năm 2018, những lời khai tiếp theo tại buổi hòa giảo và cũng như tại phiên tòa người đại diện theo pháp luật của bị đơn là ông Đào Văn Đ trình bày: Ngày 30/12/2015 Công ty TNHH đầu tư D H có vay của bà T số tiền là 160.000.000đồng, Công ty đã trả nợ cho bà T được 56.300.000đồng, số tiền còn lại là 103.700.000đồng tiền gốc và tiền lãi từ ngày 15/10/2016 đến ngày 14/3/2018 là 8.296.000đồng. Nay công ty nhất trí trả nợ cho bà T nhưng đề nghị được trả dần cho bà T mỗi tháng từ 200.000đồng/tháng đến 500.000đồng/tháng, trả vào ngày 30 hàng tháng, bắt đầu trả nợ từ tháng 4/2018 cho đến khi trả xong nợ cho bà T. Về tiền lãi thì đề nghị bà T cho doanh nghiệp xin.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở để xác định:

. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngày 29 tháng 11 năm 2017 nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thanh T có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc Công ty TNHH đầu tư D H do ông Đào Văn Đ làm Giám đốc, trụ sở: Đường Trần Hưng Đạo, phường Trưng Trắc, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc trả cho bà T số tiền nợ gốc là 103.700.000đồng và tiền lãi phát sinh. Nên Tòa án nhân dân thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo khoản 3 Điều 26; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và đại diện bị đơn, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nghiêm chỉnh chấp hành theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, tại phiên tòa các đương sự đều có mặt.

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp: “Hợp đồng vay tài sản” quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015.

. Về nội dung vụ án Hội đồng xét xử nhận thấy:

Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thanh T và bị đơn là Công ty TNHH đầu tư D H đều thừa nhận ngày 30/12/2015 nguyên đơn có cho bị đơn vay số tiền 160.000.000đ, vay không kỳ hạn lợi nhuận 6%/năm. Quá trình vay nợ bị đơn đã trả tiền nợ cho nguyên đơn làm nhiều lần được 56.300.000đồng, còn nợ tiền gốc là 103.700.000đồng và tiền lãi từ ngày 15/10/2016 đến 14/3/2018 là 8.296.000đồng. Hai bên đương sự đều thống nhất xác định hiện bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền gốc là 103.700.000đồng, tiền lãi là 8.296.000đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi là 111.996.000đồng. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự xác định hợp đồng vay tài sản là có thật, là sự thật khách quan, Hội đồng xét xử công nhận nội dung trên. Nhưng các đương sự không thống nhất được phương thức, thời hạn thanh toán tiền. Bị đơn xin được trả dần cho nguyên đơn số tiền gốc mỗi tháng là 200.000đồng đến 500.000đồng cho đến khi trả xong nợ và xin toàn bộ tiền lãi như nguyên đơn đề nghị. Còn nguyên đơn không nhất trí và yêu cầu bị đơn phải trả ngay số tiền trên cho nguyên đơn, nên vụ án mới phải đưa ra xét xử. Tại phiên toà hôm nay các đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm như trên.

Vì vậy Hội đồng xét xử cần buộc Công ty TNHH đầu tư D H phải trả cho bà Nguyễn Thị Thanh T số tiền nợ gốc là 103.700.000đồng và tiền lãi là 8.296.000đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi là 111.996.000đồng (một trăm mười một triệu chín trăm chín mươi sáu ngàn đồng).

. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Vì toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn là Công ty TNHH đầu tư D H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 111.996.000đồng x 5% = 5.598.000đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[

Căn cứ Điều 463, khoản 1 Điều 466, khoản 2 Điều 468, khoản 2 Điều 469, khoản 2 Điều 357 và điểm b khoản 1 Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Buộc Công ty TNHH đầu tư D H có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Thanh T số tiền 111.996.000đồng (một trăm mười một triệu chín trăm chín mươi sáu ngàn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thanh toán tiền thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất do chậm trả tiền của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí sơ thẩm: Công ty TNHH Đầu tư D H phải chịu tổng số tiền án phí sơ thẩm là 5.598.000đồng.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ