vanban.org

Bản án 05/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu nguyên đơn đã rút đối với bị đơn: Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn phải thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày khởi kiện đến ngày xét xử.

Chấp nhận toàn bộ các yêu cầu còn lại của nguyên đơn tại phiên tòa đối với bị đơn. Buộc ông Phạm Thế V có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V tổng số tiền 68.869.000 đ ( sáu mươi tám triệu tám trăm sáu mươi chín ngàn đồng), trong đó nợ gốc là 46.051.089 đ ( bốn sáu triệu không tră… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP V kiện Phạm Thế V"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu nguyên đơn đã rút đối với bị đơn: Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn phải thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày khởi kiện đến ngày xét xử.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2018/DS-ST
Ngày 16-01-2018
“ V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thanh Hảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đắc Liệt

Ông Vũ Xuân Miện

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hương – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hiên - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 131/2017/TLST- DS ngày 04 tháng 05 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2017/QĐXXST-DS ngày 13-12-2017; Quyết định hoãn phiên tòa số 112/2017/QĐST-DS ngày 28-12-2017; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần V; địa chỉ trụ sở: Số 89 đường H, phường H, Quận Đ, Thành phố Hà Nội; địa chỉ chi nhánh: Số 165 -167-169 đường N, phường B, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Ông Ngô Chí D là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn ( Chủ tịch hội đồng quản trị - vắng mặt).

- Ông Lê Hiền T là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ( Văn bản ủy quyền số 06/2017/UQ-CT ngày 08-02-2017- vắng mặt).

- Ông Nguyễn Văn H; cư trú tại: Số 66A đường N, phường D, thành phố VT, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ( Văn bản ủy quyền số 211/2017/UQ-GĐK-TDTD ngày 22-05-2017- có mặt).

- Ông Dương Thanh T; cư trú tại: Ấp Đ, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền số 03/2017/UQ-GĐK-TDTD ngày 29-03-2017- có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Ông Phạm Thế V; địa chỉ đăng ký HKTT và nơi ở: Số 93A đường G ( số mới 106/15 đường T), phường M, thành phố VT, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng tại Tòa án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn H trình bày nội dung vụ kiện và yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết:

Ngày 25-11-2014, ông Phạm Thế V ký Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 20141204-113036-0012 vay của Ngân hàng Thương mại cổ phần V tổng số tiền 52.500.000 đ. Nội dung hợp đồng thỏa thuận: Hình thức vay tín chấp, thời hạn vay 36 tháng ( kể từ ngày 25-11-2014 đến ngày 25-11-2016), tổng tiền gốc và lãi phải trả là 85.494.000 đ (trong đó tiền gốc là 52.500.000 đ, tiền lãi là 32.994.000 đ), 35 tháng đầu mỗi tháng trả 2.375.000 đ, tháng cuối cùng trả 2.369.000 đ, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất cho vay 2.92%/ tháng.

Kể từ ngày vay đến ngày 14-07-2015, ông V đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền nợ gốc và tiền nợ lãi là 16.625.000 đ, trong đó tiền gốc là 6.448.911 đ, tiền lãi là 10.176.089 đ. Số tiền nợ gốc và lãi còn lại ông V chưa thanh toán, dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở yêu cầu thanh toán khoản nợ còn lại nhưng ông V không thực hiện nghĩa vụ.

Tại phiên tòa ông H đại diện nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu ông V phải thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày khởi kiện đến ngày xét xử; chỉ yêu cầu ông V thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và tiền nợ lãi còn lại 68.869.000 đ theo đúng nội dung hợp đồng đã thỏa thuận, cụ thể tiền nợ gốc là 46.051.089 đ, tiền nợ lãi là 22.817.911 đ. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải chịu tiền án phí theo quy định pháp luật.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến :

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng quy định. Nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng dân sự nhưng không đến tham gia phiên tòa sơ thẩm, vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng, không có ý kiến yêu cầu gì đối với những yêu cầu của nguyên đơn, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra lại tại phiên tòa, có đầy đủ căn cứ xác định yêu cầu của nguyên đơn có căn cứ pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu mà đại diện nguyên đơn đã rút, chấp nhận toàn bộ các yêu cầu còn lại của nguyên đơn thể hiện tại phiên tòa, buộc bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn số tiền còn lại, cụ thể tiền nợ gốc là 46.051.089 đ, tiền nợ lãi là 22.817.911 đ, tổng cộng là 68.869.000 đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu. Hội đồng xét xử nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 429, 463 Bộ luật dân sự; xác định quan hệ pháp luật của vụ án dân sự là “ Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, đảm bảo đúng thời hiệu khởi kiện về hợp đồng, thẩm quyền giải quyết thuộc Toà án nhân dân thành phố Vũng Tàu quy định theo loại vụ việc, lãnh thổ và Toà án nhân dân cấp huyện.

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần V có tư cách pháp nhân hợp pháp, đầy đủ giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, được phép kinh doanh hoạt động tín dụng, thủ tục ủy quyền đúng quy định pháp luật.

Bị đơn ông Phạm Thế V cư trú tại thành phố VT, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng ông V vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

Xem xét các yêu cầu của nguyên đơn thấy rằng việc ký kết Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần V và ông Phạm Thế V là một giao dịch dân sự tự nguyện và hợp pháp. Do bị đơn vi phạm thời hạn và nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn có quyền yêu cầu bị đơn phải trả lại tài sản.

Xét nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu bị đơn phải thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày khởi kiện đến ngày xét xử là tự nguyện, nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với những yêu cầu này của nguyên đơn.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015 xác định giao dịch dân sự được ký kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần V và ông Phạm Thế V đang được thực hiện, có nội dung và hình thức phù hợp với các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, nên áp dụng các quy định của bộ luật này để giải quyết nội dung vụ án.

Xét các yêu cầu còn lại của nguyên đơn có căn cứ pháp luật theo quy định tại các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên chấp nhận toàn bộ những yêu cầu của nguyên đơn tại phiên tòa đối với bị đơn; buộc ông Phạm Thế V có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V tiền nợ gốc là 46.051.089 đ, tiền nợ lãi là 22.817.911 đ, tổng cộng là 68.869.000 đ.

Án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 5% giá trị tài sản có tranh chấp. Trả lại số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

Vì các l trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 429, 463, 466, điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu nguyên đơn đã rút đối với bị đơn: Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn phải thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày khởi kiện đến ngày xét xử.

2. Chấp nhận toàn bộ các yêu cầu còn lại của nguyên đơn tại phiên tòa đối với bị đơn.

Buộc ông Phạm Thế V có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V tổng số tiền 68.869.000 đ ( sáu mươi tám triệu tám trăm sáu mươi chín ngàn đồng), trong đó nợ gốc là 46.051.089 đ ( bốn sáu triệu không trăm năm mươi mốt ngàn không trăm tám chín đồng), nợ lãi là 22.817.911 đ ( hai mươi hai triệu tám trăm mười bảy ngàn chín trăm mười một đồng).

Kể từ ngày 16-01-2018, ông Phạm Thế V còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 20141204-113036-0012 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

3. Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Phạm Thế V phải nộp 3.444.000 đ ( ba triệu bốn trăm bốn mươi bốn ngàn đồng).

Trả lại Ngân hàng Thương mại cổ phần V số tiền tạm ứng án phí 300.000 đ (ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003959 ngày 04-05-2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố VT.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ( mười lăm ) ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ( mười lăm ) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ