- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "S - H - Tuyên bố một người mất tích"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bà Trần Thị H mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Số: 05/2017/QĐDS-ST Ngày: 26/7/2017 V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ toạ phiên họp: Bà Vũ Thị Tuyến - Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Ông Quàng Văn Long - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên họp: Ông Lê Thanh Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 02/2017/TLST- DS ngày 13 tháng 02 năm 2017 về việc “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 07/2017/QĐPH - ST ngày 17 tháng 7 năm 2017.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Đào Đức S - Sinh năm 1942
Địa chỉ: Số nhà 63, tổ dân phố 22, phường M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị H - Sinh năm 1951
Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Nhà hàng ăn uống Ngọc H, Khách sạn H - Tổ dân phố 04, phường Th, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên.
Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Ông Đào Đức S yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tuyên bố bà Trần Thị H mất tích để Tòa án giải quyết vụ việc cho ông S bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên nhận định:
Năm 1996 bà Trần Thị H thuê khách sạn hàng không Điện Biên Phủ để mở nhà hàng ăn uống mang tên Ngọc Hiên. Trước khi đi khỏi địa bàn Điện Biên vào thời gian năm 2000 bà H đã chuyển nhượng trái phép nhà, đất của ông S cho con nuôi là Hà Duyên Lâm công tác tại Cảng hàng không Điện Biên thuộc Cục Hàng không Việt Nam (vợ là Nguyễn Thị Ng công tác tại Văn phòng tỉnh ủy tỉnh Đ; nơi cư trú tổ dân phố 22, phường M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên). Vì vậy mà năm 2007 ông S đã khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đòi quyền sử dụng đất ông Lâm và bà Nga đang chiếm dụng, nhưng do ông S chưa làm thủ tục thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà H nên Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên đã ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số: 08/2007/QĐ-ĐC ngày 31/7/2007. Sau đó ông S đã thực hiện việc đăng tin tìm kiếm bà H (để giải quyết việc tranh chấp đất đai với ông S) trên Báo Công lý và Trung tâm quảng cáo, dịch vụ phát thanh Đài tiếng nói Việt Nam vào ngày 20/8/2007 (có hóa đơn kèm theo). Theo đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của ông Đào Đức S ngày 10/02/2017; Ngày 16/02/2017 Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 02/TB-TA. Nội dung thông báo này đã được đăng tải trên: Báo Công lý Tòa án nhân dân Tối cao trong 03 số báo liên tiếp (số 17 ngày 01/3/2017, số 18 ngày 03/3/2017, số 19 ngày 08/3/2017); đăng tải trên Công thông điện tử của Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên ngày 17/02/2017; đăng tải trên Công thông điện tử của Tòa án nhân dân Tối cao ngày 10/3/2017; phát sóng trên Đài tiếng nói Việt Nam ba lần trong 03 ngày liên tiếp. Thời hạn thông báo tìm kiếm bà Trần Thị H là 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu, nhưng cho đến nay bà H vẫn không có mặt tại Tòa án và ông S cũng không biết địa chỉ của bà H hiện nay ở đâu. Vì vậy để đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của mình ông S đã yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tuyên bố bà Trần Thị H mất tích.
Xét thấy, việc bà H đã biệt tích từ năm 2000 cho đến nay mà không không có tin tức xác thực về việc bà H còn sống hoặc đã chết (đã được chính quyền địa phương xác nhận tại đơn xin xác nhận ngày 20/8/2016 của ông Đào Đức S); mặt khác để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ pháp luật, ông S đã thực hiện việc Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú từ năm 2007 và Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên cũng đã thông báo tìm kiếm người bị mất tích đối với bà Trần Thị H (như đã phân tích ở trên) nhưng cho đến nay vẫn không thấy bà H trở về. Do vậy yêu cầu của ông S là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật nên Tòa án chấp nhận.
* Về lệ phí: Sau khi được giải thích quy định của pháp luật về nghĩa vụ chịu án phí, lệ phí Tòa án, ông Đào Đức S chịu tiền lệ phí giải quyết vụ việc.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 27, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 361, 367, 369, 370, 371, 372, 388, 389, 390 và khoản 1 Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Tuyên bố bà Trần Thị H mất tích.
2. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Ông Đào Đức S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền lệ phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số AA/2016/0001284 ngày 13 tháng 02 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên; Ông S đã nộp đủ tiền lệ phí dân sự sơ thẩm.
Chi phí cho việc đăng, phát thông tin tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích do ông Đào Đức S chịu.
3. Quyết định này đương nhiên hết hiệu lực trong trường hợp người bị Tòa án tuyên bố mất tích trở về hoặc người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích.
4. Ông Đào Đức S có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - VKSNDTPĐBP. - Người yêu cầu; - Chi cục THA DS TPĐBP; - Tòa án ND tỉnh ĐB; - Lưu hồ sơ; - Kế toán; - Lưu VP. | THẨM PHÁN Vò ThÞ TuyÕn |