- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Tuyên bố mất tích"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của bà Nguyễn Thị Y .
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 369 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B - TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 05 /2017/QĐDS- ST Ngày: 19/7/2017 V/v: “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B - TP. HÀ NỘI
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Đức Thưởng -Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hải Phương- Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện B - Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên họp: Ông Đỗ Văn Khoa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 7 năm 2017 tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện B mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 22/2017/TLST-VDS ngày 20 tháng 6 năm 2017 về yêu cầu “ Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 05/2017/QĐPH- ST ngày 30 tháng 06 năm 2017.
* Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1944;
Nơi cư trú: Thôn Quang Húc, xã Đ, huyện B, tp Hà Nội
* Người bị yêu cầu:
- Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1980 ;
HKTT: Thôn Quang Húc, xã Đ, huyện B, tp Hà Nội
Nơi cư trú cuối cùng: Thôn Quang Húc, xã Đ, huyện B, tp Hà Nội.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1978;
Nơi cư trú: Thôn Quang Húc, xã Đ, huyện B, tp Hà Nội
2. UBND xã Đ, huyện B, Hà Nội.
Địa chỉ: xã Đ, huyện B, Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Minh T, chức vụ: Chủ tịch UBND xã.
( Bà Y, Anh H, ông T đại diện UBND có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Những vấn đề cụ thể Bà Nguyễn Thị Y yêu cầu Tòa án giải quyết như sau: Chị Nguyễn Thị N là con gái ruột của bà có hộ khẩu thường trú tại Thôn Quang Húc, xã Đ, huyện B, Hà Nội. Năm 2003 bà không biết lý do gì mà chị N con gái bà bỏ nhà đi khỏi địa phương và không thông báo cho gia đình bà là đi đâu và làm gì. Chị N đi khỏi địa phương nhưng không liên lạc gì với gia đình. Chị N đi khỏi địa phương cũng không khai báo đối với chính quyền xã Đ biết. Trong thời gian chị N bỏ đi gia đình bà cũng đi tìm đủ mọi cách mà không có tin tức hay liên lạc được với chị N. Hiện nay chị N vẫn còn hộ khẩu thường trú tại địa phương. Khi chị N bỏ đi thì chưa kết hôn với ai. Chị N bỏ đi đến nay là 14 năm gia đình không có tin tức gì. Nay bà làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện B tuyên bố chị N mất tích là có căn cứ pháp luật.
Về tài sản riêng của chị N: Năm 1993 UBND xã Đ đã giao đất sản xuất Nông nghiệp theo định mức nhân khẩu cho chị N. Nhà nước chia theo nhân khẩu là 384m2 bằng 1,1 sào Bắc Bộ. Từ khi chị N bỏ đi thì bà Y vẫn sử dụng sản xuất trên diện tích đất và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ nộp thuế và các nghĩa vụ khác đối với địa phương. Nay bà Y yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Núi thì đề nghị Tòa án huyện B tiếp tục giao diện tích cho bà Y tiếp tục sử dụng diện tích đất Nông nghiệp nói trên.
Ngoài ra chị N không còn tài sản riêng gì khác.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhận định: Sau khi xem xét đơn yêu cầu và các tài liệu chứng cứ của bà Y đối với yêu cầu tuyên bố chị N mất tích. Tòa án đã tiến hành xác minh thu thập chứng cứ từ người thân và chính quyền địa phương từ thôn đến xã có đủ cơ sở để khẳng định: Chị Nguyễn Thị N đã bỏ nhà đi từ năm 2003 cho đến nay, chị N đi đâu làm gì và ở đâu hiện nay gia đình đều không có tin tức gì, đi đâu chị cũng không khai báo với chính quyền địa phương. Tòa án nhân dân huyện B đã ra Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú và đã đăng tin trên các phương tiện thông tin đại chúng là báo Công Lý, Đài tiếng nói Việt Nam ba số liên tiếp cho đến nay đã hơn mười một tháng mà không có tin tức gì về chị Nguyễn Thị N hiện nay đang ở đâu, làm gì. Sau khi đăng tin chị Nguyễn Thị N không liện lạc gì với gia đình. Vì vậy căn cứ vào điều 388, 389 chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị Y về việc Yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Nguyễn Thị N.
Về tài sản riêng của chị N: Năm 1993 UBND xã Đ đã giao đất sản xuất Nông nghiệp theo định mức nhân khẩu cho chị N được Nhà nước chia theo nhân khẩu là 384m2 bằng 1,1 sào Bắc Bộ. Từ khi chị N bỏ đi thì bà Yến vẫn sử dụng sản xuất trên diện tích đất và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ nộp thuế và các nghĩa vụ khác đối với địa phương. Nay quan điểm của địa phương tiếp tục giao cho bà Y tiếp tục sử dụng diện tích đất Nông nghiệp trên. Do vậy giao cho bà Y tiếp tục sử dụng diện tích đất sản xuất Nông nghiệp 384m2 đúng pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: vào điều 369, điều 370, 371,372, 387, điều 388, điều 389, điều 146 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 3, điều 26, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của bà Nguyễn Thị Y .
Tuyên bố chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1980; Sinh quán và HKTT: Thôn Quang Húc, xã Đ, huyện B, tp Hà Nội “Mất tích”.
Về tài sản riêng của chị N: Giao cho bà Nguyễn Thị Y được tiếp tục sử dụng diện tích đất Nông nghiệp là 384m2 tại Thôn Quang Húc, xã Đ, huyện B, Hà Nội cho đến khi có quyết định thay đổi khác.
Lệ phí: Bà Nguyễn Thị Y phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Bà Y đã nộp tạm ứng tại Biên lai thu tiền số 7881 ngày 20 tháng 6 năm 2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện B nay chuyển thành lệ phí bà Y phải nộp.
Bà Y, anh H, UBND xã Đ được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: -VKSND huyện B - Đương sự - Lưu HS,VP | THẨM PHÁN (đã ký) Nguyễn Đức Thưởng |