- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Ngân hàng D - Nguyễn Chí C"
- Tòa quyết gì? Không chấp nh n kháng cáo ông Nguyễn Chí C, bà Hàng Thị H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| Bản án số: 05/2017/KDTM-PT Ngày: 02 - 8 - 2017 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hà
Các Thẩm phán:
Ông Hồ Minh Tấn
Bà Châu Minh Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoa – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2017/TLPT- KDTM ngày 23 tháng 5 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 03/2017/KDTM-ST ngày 14 tháng 4 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố C bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 04/2017/QĐ-PT ngày 08 tháng 6 năm 2017 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ
Địa chỉ: phố H, qu n H, Thành phố Hà N i.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
1. Ông Nguyễn Thanh T. Địa chỉ: đường N, khóm 1, phường 9, thành phố C, tỉnh Cà Mau (Có mặt).
2. Ông Lê Nhu T. Địa chỉ: đường P, phường 5, thành phố C, tỉnh Cà Mau (Đại diện theo ủy quyền, theo văn bản ủy quyền số 533/QĐ-BIDV.ĐM ngày 06/6/2017) (Có mặt).
- Bị đơn: 1. Ông Nguyễn Chí C – sinh năm 1962.
2. Bà Hàng Thị H – sinh năm 1960.
Cùng địa chỉ: Khóm 5, phường 9, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Cùng tạm trú: đường 30/4, phường H, thị x , tỉnh Bạc iêu.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Kiều Anh V, sinh năm 1989
Trú tại: ấp R, x Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau (Theo giấy ủy quyền ngày 13/7/2017)(Có mặt)
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Chí C, bà Hàng Thị H – Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đại diện nguyên đơn trình bày: Ngày 29/8/2011 Ngân hàng thương mại cổ phần P (nay là Chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần Đ, viết tắt là Ngân hàng) có kí hợp đồng số N.A.0301.11/HĐTD v i ông Nguyễn Chí C, bà Hàng Thị H. Ngân hàng cho ông C, bà H vay số tiền vốn 120.000.000 đồng. Để đảm bảo cho khoản vay, ông C, bà H thế chấp quyền sử dụng đất diện tích 41,25m2 thu c thửa số 103 tờ bản đồ 74 tọa lạc tại phường 9, thành phố C theo giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số BA 514592 do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp ngày 14/01/2010 và quyền sử dụng đất diện tích 360m2 thu c thửa số 940 tờ bản đồ số 06 đất tọa lạc tại phường 9, thành phố C do Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau cấp ngày 30/01/1997, việc thế chấp được l p thành văn bản có công chứng và đăng ký thế chấp theo đúng quy định của pháp lu t. V i mức l i th a thu n tại hợp đồng tín dụng cụ thể: i trong hạn 1,9%/tháng, l i suất quá hạn 150% l i trong hạn, mức l i thay đổi t ng thời k theo thông báo của Ngân hàng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông C, bà H đ đóng l i 04 lần b ng 19.372.388 đồng, lần đóng l i cuối cùng vào ngày 26/6/2013, đóng l i đến ngày 24/4/2012. Do ông C, bà H đ vi phạm hợp đồng nên Ngân hàng yêu cầu ông C, bà H thanh toán cho Ngân hàng số tiền vốn 120.000.000 đồng, tiền l i tính t ngày 25/4/2012 đến ngày 14/4/2017 b ng 125.409.000 đồng và phần l i phát sinh đến thời điểm ông C, bà H trả hết nợ gốc cho Ngân hàng. Trường hợp ông C và bà H không thanh toán thì Ngân hàng yêu cầu phát mãi xử lý tài sản thế chấp.
Ông Nguyễn Chí C, bà Hàng Thị H trình bày: Ông, bà th a nh n về việc vay tiền và thế chấp tài sản như Ngân hàng trình bày. Trong quá trình vay, ông, bà đ thanh toán cho ngân hàng 19.372.388 đồng tiền l i. Ông, bà th a nh n hiện nay vẫn còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc 120.000.000 đồng, cùng v i khoản lãi phát sinh. Nay Ngân hàng yêu cầu ông, bà thanh toán số tiền 245.409.000 đồng, trong đó, nợ gốc 120.000.000 đồng, nợ l i 125.409.000 đồng, ông, bà đồng ý thanh toán số tiền gốc 120.000.000 đồng, đối v i số tiền l i 122.017.348 đồng thì ông, bà không biết có đúng hay không, ông bà sẽ kiểm tra lại. Ông, bà yêu cầu Ngân hàng giảm l i quá hạn và ngưng tính l i t tháng 6/2013 đến nay. Số tiền l i theo ý kiến của ông, bà cụ thể bao nhiêu ông bà không biết. V i yêu cầu của Ngân hàng về việc xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ, ông, bà không đồng ý. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông C, bà H không trình bày ý kiến về các yêu cầu của Ngân hàng, đồng thời, yêu cầu áp dụng thời hiệu, cho r ng biên bản làm việc ngày 24/3/2016 là biên bản khống, ông C đ ký tên vào mẫu biên bản nói trên khi chưa viết n i dung. Ngày cuối cùng ông C giao dịch v i Ngân hàng là ngày 26/6/2013 tính đến ngày Ngân hàng khởi kiện thì không còn thời hiệu khởi kiện nên yêu cầu Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án.
Từ nội dung trên, tại bản án sơ thẩm số 03/2017/KDTM-ST ngày 14 tháng 4 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố C quyết định:
Áp dụng vào các điều 342, 343, 347, 351, 355, 471, 474, 715, 721 B lu t dân sự ; Điều 91 u t các tổ chức tín dụng; các điều 30, 147, 232, 273 B lu t tố tụng dân sự:
Chấp nh n yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ
Bu c ông Nguyễn Chí C, bà Hàng Thị H phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền 245.409.000 đồng (hai trăm bốn mươi lăm triệu bốn trăm l chín ngàn đồng), trong đó tiền vốn 120.000.000 đồng, tiền l i tính đến ngày 14/4/2017 là 125.409.000 đồng. Tiếp tục phải trả khoản l i phát sinh theo mức l i suất th a thu n tại hợp đồng tín dụng đến khi thi hành xong.
Ngân hàng thương mại cổ phần Đ phải trả lại cho ông Nguyễn Chí C, bà Hàng Thị H iấy chứng quyền sử dụng đất số H435373 do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp ngày 30/01/1997, phần đất thu c thửa số 940, tờ bản đồ số 06, đất tọa lạc tại phường 9, thành phố C và iấy chứng nh n quyền sử dụng đất số BA 514592 do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp ngày 14/01/2010 đối v i phần đất thu c thửa số 103, tờ bản đồ số 74, sau khi ông Nguyễn Chí C, bà Hàng Thị H thanh toán xong nợ.
Trường hợp ông Nguyễn Chí C, bà Hàng Thị H không thanh toán hoặc thanh toán không đủ khoản nợ nêu trên, thì Ngân hàng thương mại cổ phần Đ có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 41,25m2 thu c thửa số 103 tờ bản đồ 74 tọa lạc tại phường 9, thành phố C theo giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số BA 514592 do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp ngày 14/01/2010 và tài sản gắn liền v i đất và Quyền sử dụng đất diện tích 360m2 thu c thửa số 940 tờ bản đồ số 06 đất tọa lạc tại phường 9, thành phố C theo giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số H435373 do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp ngày 30/01/1997 và tài sản gắn liền v i đất, để thu hồi nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lệ phí và quyền kháng cáo theo lu t định.
Ngày 21/4/2017 ông Nguyễn Chí C, bà Hàng Thị H kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu xem xét lại thời hiệu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu kiểm tra lại tài liệu chứng cứ của nguyên đơn có dấu hiệu giả mạo ý chí của bị đơn, hủy án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn tranh luận: Tòa án cấp sơ thẩm thu th p chứng cứ không đầy đủ như bản án sơ thẩm căn cứ vào biên bản l p ngày 24/3/2016 để cho r ng Ngân hàng còn thời hiệu khởi kiện nhưng không làm rõ biên bản này ai l p, l p vào thời gian nào, không triệu t p người l p biên bản để làm rõ, tại cấp sơ thẩm bị đơn đ có yêu cầu trưng cầu giám định biên bản ngày 24/3/2016 nhưng không được xem xét nên biên bản này không có giá trị pháp lý.
Cấp sơ thẩm không làm rõ thẩm quyền khởi kiện của Ngân hàng vì ông C và bà H ký hợp đồng tín dụng v i Ngân hàng thương mại cổ phần P. Do đó Ngân hàng không có quyền khởi kiện.
Ngoài ra cấp sơ thẩm không xem xét căn cứ tính l i suất của Ngân hàng có cơ sở hay không, vì theo hợp đồng tín dụng có th a thu n mức l i suất được điều chỉnh theo thông báo của Ngân hàng. Do đó đề nghị hủy án sơ thẩm.
Đại diện Ngân hàng tranh luận:
Về quyền khởi kiện: Việc sáp nh p giữa Ngân hàng thương mại cổ phần P v i Ngân hàng thương mại cổ phần Đ đ được công bố r ng r i trên phương tiện thông tin đại chúng và Ngân hàng cũng đ cung cấp Quyết định số 589 ngày 25/4/2015 của Ngân hàng nhà nư c Việt Nam về việc sáp nh p. Về biên bản do Ngân hàng l p ngày 24/3/2016 là do cán b Ngân hàng l p, ông C đ tự nguyện ký biên bản và cam kết thanh toán nợ nên Ngân hàng còn thời hiệu khởi kiện.
Về l i suất: Việc điều chỉnh l i suất là thẩm quyền của Ngân hàng, Ngân hàng có quyền điều chỉnh hoặc không, theo quy định trong kinh doanh của Ngân hàng, trong hợp đồng tín dụng không quy định thời gian bao lâu thì Ngân hàng phải điều chỉnh mức l i suất, không có th a thu n khi thông báo cho khách hàng b ng hình thức văn bản hay b ng cách thức nào khác, nếu có th a thu n thông báo cho khách hàng b ng văn bản thì khách hàng phải chịu phí thông báo, trong trường hợp này Ngân hàng đ thông báo cho ông C b ng hình thức điện thoại trực tiếp và mức l i suất Ngân hàng áp dụng là thấp hơn so v i hợp đồng tín dụng đ ký kết v i ông C, bà H theo hư ng có lợi cho ông C, bà H và không áp dụng phạt l i ch m thanh toán theo quy định tại Điều 3 hợp đồng tín dụng đ giao kết giữa hai bên, nếu ông C và bà H không chấp nh n mức l i suất theo bản án sơ thẩm quyết định thì yêu cầu tính l i suất theo hợp đồng tín dụng đ giao kết. Ngân hàng chỉ thông báo b ng văn bản khi thay đổi áp dụng mức l i suất cao hơn so v i mức l i suất đ th a thu n trong hợp đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu: Về tố tụng: Thẩm phán, H i đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp lu t tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng v i quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp lu t quy định. Về n i dung: Ngân hàng có đủ tư cách khởi kiện do có quyết định sáp nh p giữa Ngân hàng thương mại cổ phần P v i Ngân hàng thương mại cổ phần Đ; về biên bản ngày 24/3/2016, ông C th a nh n có ký vào biên bản nên thời hiệu khởi kiện vẫn còn. Đối v i phần l i suất Ngân hàng tính là có lợi cho ông C, bà H. Đề nghị H i đồng xét xử phúc thẩm không chấp nh n kháng cáo của ông C, bà H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Đối v i kháng cáo của ông Nguyễn Chí C, bà Hàng Thị H yêu cầu xem xét lại thời hiệu khởi kiện và chứng cứ của Ngân hàng cung cấp là giả mạo, thấy r ng: Giữa nguyên đơn và bị đơn th a nh n có ký kết hợp đồng tín dụng số N.A.0301.11/HĐTD ngày 29 tháng 8 năm 2011 vay số tiền 120.000.000 đồng, theo bản tự khai ngày 21/02/2017 ông C, bà H th a nh n có nợ Ngân hàng số tiền vay là 120.000.000 đồng, do tiền l i là 122.017.348 đồng là quá nhiều nên ông bà không có khả năng thanh toán cho Ngân hàng.
Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của bị đơn cho r ng, do chứng cứ của Ngân hàng là giả mạo về n i dung và thời điểm ký biên bản nên đ yêu cầu cấp sơ thẩm giám định nhưng cấp sơ thẩm không xem xét. Thấy r ng, thực tế tại phiên tòa sơ thẩm ông C th a nh n có làm việc v i Ngân hàng vào ngày 24/3/2016 v i n i dung là “…hoàn cảnh gia đình khó khăn, xin cho liên hệ với Ngân hàng sau để giải quyết về số nợ.” (B 120) thời điểm này ông C vẫn th a nh n nợ Ngân hàng, n i dung Ngân hàng làm việc v i ông C phù hợp v i biên bản ngày 24/3/2016 và cho r ng có ký biên bản nhưng biên bản không ghi n i dung là việc gì, toàn b quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm ông C và bà H không yêu cầu giám định biên bản ngày 24/3/2016 nên cấp sơ thẩm không giám định. Do đó lời tranh lu n của đại diện theo ủy quyền của ông C cho r ng ông C có yêu cầu giám định nhưng không được cấp sơ thẩm chấp nh n là không phù hợp v i chứng cứ có tại hồ sơ nên H i đồng xét xử phúc thẩm không chấp nh n yêu cầu giám định biên bản ngày 24/3/2016 của ông C. Ông C và bà H không chứng minh được Ngân hàng giả mạo ý chí của ông là căn cứ vào tài liệu chứng cứ nào. Do đó, không có cơ sở để xác định chứng cứ của Ngân hàng cung cấp là để khởi kiện là giả mạo.
Do ông C ký vào biên bản th a nh n việc nợ Ngân hàng vào ngày 24/3/2016 nên căn cứ vào Điều 162 B lu t dân sự năm 2005 (Điều 157 B lu t dân sự năm 2015) quy định về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án “Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện” ... thì thời hiệu khởi kiện của Ngân hàng theo quy định tại Điều 159 B lu t Tố tụng dân sự năm 2005 và Điều 427 B lu t Dân sự năm 2005 vẫn còn.
Đối v i vấn đề phía bị đơn đặt ra tại phiên tòa phúc thẩm là Ngân hàng không có quyền khởi kiện. H i đồng xét xử thấy r ng, ngày 29/8/2011 ông C, bà Hồng ký hợp đồng tín dụng vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần P. Vào ngày 25/4/2015 đ có quyết định của Ngân hàng Nhà nư c về việc sáp nh p Ngân hàng thương mại cổ phần P v i Ngân hàng thương mại cổ phần Đ, việc sáp nh p này đ được công bố r ng r i trên phương tiện thông tin đại chúng. Tại cấp sơ thẩm ông C. bà H vẫn th a nh n nợ Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (BL 56), là đ biết được Ngân hàng có quyền khởi kiện; tại cấp phúc thẩm Ngân hàng đ cung cấp Quyết định số 589 về việc sáp nh p Ngân hàng nên lời tranh lu n của đại diện theo ủy quyền của ông C là không có cơ sở để chấp nh n việc Ngân hàng thương mại cổ phần Đ không có quyền khởi kiện.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện theo ủy quyền của ông C, bà H yêu cầu hủy án sơ thẩm, không đồng ý thanh toán l i quá hạn cho Ngân hàng vì theo hợp đồng tín dụng có th a thu n mức l i suất cho vay trong hạn là 1,90%/tháng và mức l i suất này được điều chỉnh t ng thời k theo thông báo của Ngân hàng, nhưng cấp sơ thẩm không yêu cầu Ngân hàng cung cấp mức l i suất điều chỉnh theo t ng thời k mà chấp nh n việc tính mức l i suất giảm dần không có cơ sở là không có căn cứ.
Theo bản án sơ thẩm chấp nh n mức l i suất mà Ngân hàng yêu cầu ông C và bà H thanh toán cụ thể: Thời gian t ngày 25/4/2012 đến 01/8/2012 thời gian 99 ngày mức l i suất 22%/năm b ng 7.524.000 đồng, t ngày 02/8/2012 đến 27/02/2013 thời gian 210 ngày mức l i suất 17%/năm, t ngày 28/02/2013 nợ chuyển quá hạn đến 13/5/2013 thời gian 75 ngày l i trong hạn 17%/năm b ng 4.250.000 đồng, l i quá hạn b ng 150% l i trong hạn b ng 2.125.000 đồng, t ngày 14/5/2013 đến 25/02/2015 thời gian 653 ngày v i mức l i trong hạn 15%/năm b ng 32.650.000 đồng, l i quá hạn 16.325.000 đồng, l i t 26/02/2015 đến 14/4/2017 thời gian 779 ngày v i mức l i suất 13%/năm b ng 33.756.667 đồng, l i quá hạn 16.878.333 đồng. Tổng c ng tiền l i t ngày 25/4/2012 tính đến ngày 14/4/2017 là 125.409.000 đồng.
Xét số tiền yêu cầu về l i suất của Ngân hàng đối v i ông C, bà H, mặc dù Ngân hàng không cung cấp mức l i suất giảm dần là theo văn bản nào, chỉ theo cách thức thông qua điện thoại báo cho ông C như Ngân hàng trình bày. Tuy nhiên, căn cứ theo hợp đồng tín dụng có th a thu n l i suất trong hạn 1,90%/tháng, lãi suất quá hạn 150%, mức l i ch m trả l i, phạt t 3% đến 5%. Ông C, bà H không thực hiện đóng l i trong hạn, Ngân hàng không phạt mức l i suất ch m thanh toán mà còn áp dụng mức l i suất giảm dần, cụ thể là mức l i suất t 22% giảm dần còn 13% là đ tạo điều kiện cho ông C, bà H thanh toán nợ cho Ngân hàng là phù hợp v i quy định tại điểm 8.1.9 Điều 8 hợp đồng tín dụng: “Bên A được quyền xem xét thay đổi lãi suất cho vay trong trường hợp phát sinh nợ vay không trả đúng hạn và phải điều chỉnh hoặc cho gia hạn”, phía Ngân hàng đ gia hạn cho ông C, phía ông C vi phạm hợp đồng và Ngân hàng điều chỉnh mức l i suất lại thấp hơn so v i hợp đồng đ ký kết là có lợi cho ông C, bà H. Ngoài ra, tại cấp sơ thẩm ông C cũng trình bày do Ngân hàng hết thời hiệu khởi kiện nên ông không trình bày ý kiến đối v i l i suất (B 120) nên H i đồng không xem xét lại việc tính l i suất của Ngân hàng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đề nghị H i đồng xét xử giải quyết giữ nguyên bản án sơ thẩm. Như phân tích trên, cần chấp nh n quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, không chấp nh n kháng cáo của ông Nguyễn Chí C và bà Hàng Thị H.
Tuy nhiên, trong phần nh n định và quyết định cấp sơ thẩm có nhầm lẫn nh n định tài sản gắn liền v i đất và Quyền sử dụng đất diện tích 360m2 thu c thửa số 940 tờ bản đồ số 06 đất tọa lạc tại phường 9, thành phố C theo giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số H435373 do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp ngày 30/01/1997 cho ông Nguyễn Chí C là không đúng mà quyền sử dụng đất này do Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau cấp, do đó cấp phúc thẩm điều chỉnh lại cho đúng v i chứng cứ thực tế có tại hồ sơ.
Do kháng cáo không được chấp nh n nên ông C và bà H phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định pháp lu t.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 B lu t tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nh n kháng cáo ông Nguyễn Chí C, bà Hàng Thị H.
Giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2017/KDTM-ST ngày 14 tháng 4 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố C.
Áp dụng các điều 342, 343, 347, 351, 355, 471, 474, 715, 721 B lu t Dân sự; Điều 91 u t các tổ chức tín dụng; các điều 30, 147, 232, 273 B lu t Tố tụng dân sự.
Chấp nh n yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.
Bu c ông Nguyễn Chí C, bà Hàng Thị H phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền 245.409.000 đồng (Hai trăm bốn mươi lăm triệu, bốn trăm l chín ngàn đồng), trong đó tiền vốn 120.000.000 đồng, tiền l i tính đến ngày 14/4/2017 là 125.409.000 đồng. Tiếp tục phải trả khoản l i phát sinh theo mức l i suất th a thu n tại hợp đồng tín dụng đến khi thi hành xong.
Ngân hàng thương mại cổ phần Đ phải trả lại cho ông Nguyễn Chí C, bà Hàng Thị H iấy chứng quyền sử dụng đất số H435373 do Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau cấp ngày 30/01/1997, phần đất thu c thửa số 940, tờ bản đồ số 06, đất tọa lạc tại phường 9, thành phố C và iấy chứng nh n quyền sử dụng đất số BA 514592 do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp ngày 14/01/2010 đối v i phần đất thu c thửa số 103, tờ bản đồ số 74, sau khi ông Nguyễn Chí C, bà Hàng Thị H thanh toán xong nợ.
Trường hợp ông Nguyễn Chí C, bà Hàng Thị H không thanh toán hoặc thanh toán không đủ khoản nợ nêu trên, thì Ngân hàng thương mại cổ phần Đ có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 41,25m2 thu c thửa số 103 tờ bản đồ 74 tọa lạc tại phường 9, thành phố C theo giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số BA 514592 do Ủy ban nhân dân thành phố C cấp ngày 14/01/2010 và tài sản gắn liền v i đất và Quyền sử dụng đất diện tích 360m2 thu c thửa số 940 tờ bản đồ số 06 đất tọa lạc tại phường 9, thành phố C theo giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số H435373 do Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau cấp ngày 30/01/1997 và tài sản gắn liền v i đất, để thu hồi nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ.
Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm ông Nguyễn Chí C, bà Hàng Thị H phải chịu 2.000.000 đồng, ngày 03 tháng 5 năm 2017 đ dự n p 2.000.000 đồng theo lai thu số 0003036 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố C được chuyển thu.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp lu t kể t ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể t ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Tòa án nhân dân thành phố C; - Chi cục THADS thành phố C; - Các đương sự; - ưu hồ sơ; - ưu án văn; - ưu VT(TM:TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Thị Hải Hà |