vanban.org

Bản án 0452/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lý Phúc T và ông Nguyễn Trung Q. Về con chung: Có 02 con chung là trẻ Nguyễn Lý Thoại K, sinh ngày 17/5/2013 và trẻ Nguyễn Lý Hiểu L, sinh ngày 23/6/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN PHÚ NHUẬN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 0452/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 31-5-2024
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Quỳnh. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Thu Hương.

2. Bà Huỳnh Anh Phương Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thanh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 0080/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 52/2024/QĐST-DS ngày 14/5/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lý Phúc T, sinh năm 1985 (có mặt).

Nơi cư trú: 594 N, Tổ dân phố A, Khu phố B, Phường D, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Trung Q, sinh năm 1971 (vắng mặt).

Nơi cư trú: 594 N, Tổ dân phố A, Khu phố B, Phường D, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn đề ngày 08 tháng 01 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lý Phúc T trình bày:

Bà Lý Phúc T và ông Nguyễn Trung Q tự nguyện kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 164/2011, quyển số 01/2011 ngày 21/10/2011 tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Thời gian đầu hai vợ chồng sống với nhau hạnh phúc nhưng sau đó mâu thuẫn phát sinh do cả hai bất đồng về mọi mặt trong cuộc sống. Từ đó, làm cho cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, không còn sự hòa thuận, tin tưởng và yêu thương nhau. Do đó, bà Lý Phúc T yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Trung Q.

Về con chung: Bà Lý Phúc T và ông Nguyễn Trung Q có 02 con chung là trẻ Nguyễn Lý Thoại K, sinh ngày 17/5/2013 và trẻ Nguyễn Lý Hiểu L, sinh ngày 23/6/2023. Bà Lý Phúc T không yêu cầu ông Nguyễn Trung Q cấp dưỡng nuôi 02 con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lý Phúc T tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Trung Q trình bày:

Ông Q thống nhất trình bày của bà T về quá trình kết hôn và con chung. Cuộc sống tuy có nhiều mâu thuẫn nhưng không đến mức trầm trọng, ông không đồng ý ly hôn với bà T chỉ mong muốn được đoàn tụ.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Lý Phúc T giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Trung Q, về giải quyết con chung, tài sản chung và nợ chung để ổn định cuộc sống. Bà Lý Phúc T khẳng định các chứng cứ đã được giao nộp, tiếp cận, công khai trong quá trình giải quyết vụ án. Ngoài những chứng cứ đã thu thập tại hồ sơ, không có chứng cứ nào khác cung cấp cho Tòa án.

Bị đơn ông Nguyễn Trung Q vắng mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

+ Về nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, T1 phồ Hồ Chí Minh nhận định:

Về thẩm quyền:

Nguyên đơn bà Lý Phúc T yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Trung Q hiện đang cư trú tại quận P, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ kiện thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc vắng mặt của bị đơn:

Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử; giấy triệu tập tham gia phiên tòa; quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn ông Nguyễn Trung Q vắng mặt.

Đồng thời, tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu khởi kiện, lời trình bày cũng như chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để làm cơ sở xem xét giải quyết vụ án và tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Trung Q theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 164/2011, quyển số 01/2011, ngày 21/10/2011 tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang có căn cứ xác định hôn nhân giữa bà Lý Phúc T và ông Nguyễn Trung Q là hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, ông Nguyễn Trung Q không có mặt tham gia để trình bày ý kiến cũng như quan điểm về mối quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Do đó, có căn cứ xác định ông Nguyễn Trung Q đã không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này. Xét thấy, vợ chồng phải thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng chia sẻ mọi việc trong cuộc sống nhưng cuộc sống vợ chồng giữa ông Nguyễn Trung Q và bà Lý Phúc T không còn sự chia sẻ lẫn nhau dẫn đến nhiều mâu thuẫn phát sinh không thể khắc phục. Mặt khác, tình cảm của bà Lý Phúc T dành cho ông Nguyễn Trung Q không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu ly hôn của bà Lý Phúc T để ổn định cuộc sống là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Căn cứ vào Giấy khai sinh số 194/2013, quyển số 01/2013, ngày 23/5/2013 của Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang và Giấy khai sinh số 70/2023, ngày 31/7/2023 của Ủy ban nhân dân Phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang có cơ sở xác định bà Lý Phúc T và ông Nguyễn Trung Q có 02 con chung là trẻ Nguyễn Lý Thoại K, sinh ngày 17/5/2013 và trẻ Nguyễn Lý Hiểu L, sinh ngày 23/6/2023.

Xét, bà Lý Phúc T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Lý Thoại K và Nguyễn Lý Hiểu L và không yêu cầu ông Nguyễn Trung Q cấp dưỡng nuôi 02 con chung. Nguyện vọng được trực tiếp nuôi con của bà Lý Phúc T xuất phát từ tình thương và trách nhiệm đối với con cái. Tuy nhiên, việc giao con cho người trực tiếp nuôi dưỡng phải cân nhắc tới việc đảm bảo cuộc sống của con về mọi mặt. Do đó, vì bảo đảm lợi ích cho sự phát triển ổn định của trẻ, tránh ảnh hưởng tâm lý do thay đổi môi trường sống, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Lý Phúc T về việc được trực tiếp nuôi dưỡng 02 trẻ Nguyễn Lý Thoại K và Nguyễn Lý Hiểu L, phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ghi nhận việc bà Lý Phúc T không yêu cầu ông Nguyễn Trung Q đóng góp cấp dưỡng nuôi cho đến khi 02 con thành niên.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lý Phúc T tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Bà Lý Phúc T phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 48; Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 264 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 và Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 17 Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2022).

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lý Phúc T và ông Nguyễn Trung Q.

2. Về con chung: Có 02 con chung là trẻ Nguyễn Lý Thoại K, sinh ngày 17/5/2013 và trẻ Nguyễn Lý Hiểu L, sinh ngày 23/6/2023.

Giao trẻ Nguyễn Lý Thoại K và trẻ Nguyễn Lý Hiểu L cho bà Lý Phúc T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên.

Ghi nhận việc bà Lý Phúc T không yêu cầu ông Nguyễn Trung Q cấp dưỡng nuôi con cho đến khi 02 con thành niên.

Quyền và nghĩa vụ của bà Lý Phúc T và ông Nguyễn Trung Q đối với con chưa thành niên được pháp luật bảo đảm. Vì lợi ích của trẻ, việc trực tiếp nuôi con và đóng góp cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân gia đình: Bà Lý Phúc T phải chịu án phí là 300.000 (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0032030 ngày 15/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh; bà Lý Phúc T đã nộp đủ án phí.

5. Về nghĩa vụ thi hánh án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án tân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2022) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2022); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2022).

6. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ