vanban.org

Bản án 04

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Vĩnh H (R) và Lê Ngọc H (Đ) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Trần Vĩnh H (R): 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 20/9/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Vĩnh H và Lê Ngọc H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Vĩnh H (R) và Lê Ngọc H (Đ) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAM LỘ
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 04/2022/HSST

NHÂN DANH

Ngày 20-01-2022

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

+ Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Hoài Thủy.

+ Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Như Chiến;

2. Ông Nguyễn Văn Vinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Tường Vy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cam Lộ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2021/TLST - HS ngày 30/12/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2022/QĐXXST-HS ngày 06/01/2022 đối với các bị cáo:

Trần Vĩnh H, tên gọi khác: R; sinh ngày 13 tháng 11 năm 1999 tại Quảng Trị; nơi cư trú: thôn K, xã T, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Công nhân; con ông Trần Vĩnh T, sinh năm 1977 và bà Hồ Thị Ái N, sinh năm 1979, cư trú tại: thôn K, xã T, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị; vợ con chưa có; tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/9/2021 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cam Lộ, có mặt tại phiên tòa.

Lê Ngọc H, tên gọi khác: Đ; sinh ngày 26 tháng 9 năm 1996 tại Quảng Trị; nơi cư trú: thôn M, xã C, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Công nhân; con ông Lê Văn H, sinh năm 1975 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1977, nơi trú tại: thôn M, xã C, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị; vợ con chưa có; tiền sự: không có.

Tiền án: Ngày 20/5/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ xử phạt 12 tháng tù về tội " Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Đã chấp hành án xong hình phạt ngày 24/01/2017. (Cho đến nay chưa chấp hành xong phần dân sự)

Quá trình bản thân:

- Ngày 30/10/2012 bị Chủ tịch UBND huyện Cam Lộ ký Quyết định đưa đi trường giáo dưỡng số 3 tại Đà Nẵng thời hạn 24 tháng. Ngày 02/11/2014 chấp hành xong.

- Ngày 26/12/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà tuyên phạt 13 tháng tù về tội " Trộm cắp tài sản". Đã chấp hành án xong hình phạt ngày 10/9/2018 và đã chấp hành xong án phí.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/9/2021 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cam Lộ, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Ngọc H: Bà Lê Đỗ Diệu Huyền, trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Trị, có mặt.

Người làm chứng: Ông Hoàng Văn L, sinh năm: 1970; nơi cư trú: thôn V, xã C, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 16 giờ 47 ngày 19/9/2021, Trần Vĩnh H nhắn tin qua zalo cho Lê Ngọc H rủ đến nhà anh Nguyễn Đình H ở Gio Quang, Gio Linh chơi, đồng thời hỏi H biết nơi nào bán ma túy để mua về cùng sử dụng. H trả lời có. Trần Vĩnh H lấy xe mô tô BKS 60S3-9041 (của chị Trần Thị Ngọc A) đến chở H ra nhà anh Nguyễn Đình H để nhậu. Trong quá trình ngồi nhậu, Trần Vĩnh H nói riêng với Lê Ngọc H là tìm chỗ mua ma túy về cùng sử dụng. H đi ra ngoài liên hệ với một người tên T (không xác định được lai lịch) hỏi mua ma túy, T hẹn đến khu vực đường bê tông phía dưới nhà máy gạch, thuộc phường 4, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị để giao ma túy. Khoảng 18h20, cùng ngày H chở H về nhà, rồi giao xe cho H điều khiển để cùng đi mua ma túy, trên đường đi H đưa cho H 700.000 đồng nói là mua 20 viên ma túy (Hồng Phiến), H đồng ý góp nợ 200.000 đồng để mua ma túy (khi nào có H sẽ trả). H điều khiển xe mô tô chở H đến đoạn đường bê tông phía dưới nhà máy gạch, thuộc phường 4, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, gặp một người nam thanh niên (không rõ lai lịch) đang đứng chờ tại đó. H dừng xe chủ động hỏi mua 20 viên ma túy với giá 700.000 đồng. Người thanh niên đó đưa cho H một ống nhựa có dán kín 02 đầu, bên trong có chứa 20 viên nén màu hồng là ma túy (hồng phiến). H trả tiền xong, cầm ma túy ở tay trái, rồi chở H chạy về lại theo đường củ. Khoảng 19 giờ 10 ngày 19/9/2021, khi H điều khiển xe mô tô chở H chạy theo đường đất giữa rừng tràm phía sau nhà máy xi măng thuộc thôn Vĩnh Đại, xã Cam Hiếu, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị thì bị Cơ quan Công an huyện Cam Lộ phát hiện, bắt quả tang thu giữ trong tay trái của H được 01 ống nhựa dài 16cm, màu trắng sọc đỏ, bên trong có chứa 20 viên nén màu hồng có in chữ WY là ma túy (Hồng Phiến).

Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 30/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị các cáo Trần Vĩnh H và Lê Ngọc H về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại bản kết luận giám định số 960/KLGĐ ngày 23/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Quảng Trị kết luận:

Các viên nén màu hồng (được niêm phong trong túi giấy niêm phong ghi ký hiệu M1) gửi đến giám định có khối lượng 2,2346g là ma túy loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất Ma túy nằm trong danh mục II, STT: 323 Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trần Vĩnh H và Lê Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38 BLHS. Đối với bị cáo H áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt:

Bị cáo Trần Vĩnh H (R) từ 21 đến 24 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam;

Bị cáo Lê Ngọc H (Đ) từ 27 đến 30 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.

Về vật chứng: điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tuyên;

Tịch thu và tiêu hủy:

Các viên nén có khối lượng 2,0140g và 0,1762g chất bột màu hồng là ma túy loại Methamphetamine cùng bao gói sau giám định được niêm phong trong phong bì giấy ký hiệu PS3A 094747 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Trị; 01 đoạn ống nhựa hút màu trắng sọc đỏ chiều dài ống là 16cm, 01 dây thun cao su màu đỏ; 01 thẻ sim, trên thẻ sim có dãy số: 8984048000055642623; 01 thẻ sim, trên thẻ sim có dãy số: 89840200011224146488

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

01 điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 6, màu trắng bạc; Số Imei: 358568073917985 và 01 điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu Samsung Galaxy A30; Số Imei1: 354868101278309, Số Imei2: 354869101278307.

(Số vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lộ theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/01/2022).

Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án tuyên các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí HSST.

Người bào chữa bào chữa cho bị cáo H trình bày lời bào chữa:

Bị cáo Lê Ngọc H có hoàn cảnh gia đình khó khăn, thuộc diện hộ nghèo. Quá trình điều tra truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù là phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tội danh: Ngày 19/9/2021 Trần Vĩnh H và Lê Ngọc H bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ 20 viên nén màu hồng là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 2,2346gam. Hành vi trên của Trần Vĩnh H và Lê Ngọc H đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS. Điều luật có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Về vai trò của các bị cáo: Đối với bị cáo H là người khởi xướng, H là người trực tiếp và liên lạc để mua ma túy nên vai trò của hai bị cáo là ngang nhau.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối với bị cáo Lê Ngọc H có 01 tiền án năm 2016 đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa chấp hành xong phần dân sự của bản án nên phải chịu tình tiết tăng nặng: Tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 BLHS.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thần khẩn khai báo; bị cáo H nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự ăn năn hối cải; quá trình đi nghĩa vụ quân sự được tặng danh hiệu chiến sỹ tiên tiến; bị cáo Lê Ngọc H thuộc diện hộ nghèo nên các bi cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước nên cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới đủ răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:

Quá trình điều tra Cơ quan Công an huyện Cam Lộ đã tạm giữ: 20 viên nén màu hồng có khối lượng là 2,2346 gam là ma túy loại Methamphetamine. Sau giám định Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Quảng Trị hoàn trả lại các viên nén có khối lượng 2,0140g và 0,1762g chất bột màu hồng là ma túy loại Methamphetamine được niêm phong trong phong bì giấy ký hiệu PS3A 094747 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Trị; 01 đoạn ống nhựa hút màu trắng sọc đỏ chiều dài ống là 16cm, 01 dây thun cao su màu đỏ; 01 thẻ sim, trên thẻ sim có dãy số: 8984048000055642623; 01 thẻ sim, trên thẻ sim có dãy số: 89840200011224146488. Số vật chứng trên là những vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

01 điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 6, màu trắng bạc; Số Imei: 358568073917985 của bị cáo H; 01 điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu Samsung Galaxy A30; Số Imei1: 354868101278309, Số Imei2: 354869101278307 của bị cáo H là phương tiện dùng vào việc liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

(Số vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lộ theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/01/2022).

Ngoài ra còn thu giữ:

01 xe mô tô, dạng xe Dream màu sơn đỏ, BKS: 60S3-9041; Số khung: 013PD-015730; Số máy: FMG-00015730 xe mô tô này H mượn của chị Trần Thị Ngọc A, chị A không biết H dùng làm phượng tiện phạm tội nên trong giai đoạn điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu chị Ánh không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Thời hạn tạm giam của các bị cáo còn dưới 45 ngày nên tạm giam các bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

Về thủ tục tố tụng: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đối với bị cáo H áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Vĩnh H (R) và Lê Ngọc H (Đ) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt:

Bị cáo Trần Vĩnh H (R): 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 20/9/2021.

Bị cáo Lê Ngọc H (Đ): 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 20/9/2021.

3. Về xử lý vật chứng: Tuyên:

Tịch thu và tiêu hủy:

Các viên nén có khối lượng 2,0140g và 0,1762g chất bột màu hồng là ma túy loại Methamphetamine cùng bao gói sau giám định được niêm phong trong phong bì giấy ký hiệu PS3A 094747 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Trị; 01 đoạn ống nhựa hút màu trắng sọc đỏ chiều dài ống là 16cm, 01 dây thun cao su màu đỏ; 01 thẻ sim, trên thẻ sim có dãy số: 8984048000055642623; 01 thẻ sim, trên thẻ sim có dãy số: 89840200011224146488

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

01 điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 6, màu trắng bạc; Số Imei: 358568073917985 và 01 điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu Samsung Galaxy A30; Số Imei1: 354868101278309, Số Imei2: 354869101278307.

(Số vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lộ theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/01/2022).

4. Về án phí: Các bị cáo Trần Vĩnh H (R) và Lê Ngọc H (Đ) mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

5. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ