- Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T, sinh ngày 02 tháng 01 năm 1994; nơi cư trú: Thôn V, xã T, tỉnh Lạng Sơn.
- Căn cứ chính? Điều 42 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 04/QĐ-TA | Lạng Sơn, ngày 17 tháng 3 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LẠNG SƠN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Mạnh Cường.
2. Thư ký phiên họp: Ông Nông Văn Đông.
Ngày 17 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 02/QĐ-TA ngày 10 tháng 3 năm 2026 đối với:
Họ và tên: Nguyễn Văn T. Giới tính: Nam.
Sinh ngày 02 tháng 01 năm 1994.
Căn cước công dân: 020094010300.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hóa: Lớp 7/12.
Nguyên quán: Xã T, tỉnh Lạng Sơn.
Nơi cư trú và chỗ ở: Thôn V, xã T, tỉnh Lạng Sơn.
Nghề nghiệp: Không.
Tiền án: Không; tiền sự: Không.
Nhân thân: Đã bị xét xử về tội Vận chuyển hàng cấm và chấp hành xong bản án; đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng.
Con ông Nguyễn Văn L và con bà Mà Thị X.
Vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Công an xã Tuấn Sơn, tỉnh Lạng Sơn: Ông Nông Tiến Văn - Trưởng Công an xã Tuấn Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn: Ông Nông Ngọc Hưng - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Nguyễn Văn T là người sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 27/01/2026, Chủ tịch Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) xã Tuấn Sơn, tỉnh Lạng Sơn ra Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy số 95/QĐ-UBND đối với Nguyễn Văn T. Đang trong thời gian bị quản lý, Nguyễn Văn T không chấp hành tốt các quy định của pháp luật, lại tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 25/02/2026 của Công an xã Tuấn Sơn đối với Nguyễn Văn T cho kết quả dương tính với chất ma túy. Tại bản tường trình và biên bản lấy lời khai tại Công an xã Tuấn Sơn, Nguyễn Văn T khẳng định bản thân sử dụng ma túy từ năm 2016, hiện nay vẫn thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy, lần sử dụng gần nhất là ngày 22/02/2026, đã bị lập biên bản vi phạm hành chính và được thông báo hướng dẫn đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện nhưng Nguyễn Văn T không tham gia chương trình cai nghiện tự nguyện nào.
Cùng ngày, Công an xã Tuấn Sơn ban hành công văn đề nghị Trạm Y tế xã Tuấn Sơn xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Nguyễn Văn T. Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trạm Y tế xã Tuấn Sơn ngày 25/02/2026, thể hiện Nguyễn Văn T có nghiện ma túy Mathamphetamine. Cùng ngày, Công an xã Tuấn Sơn đã ban hành Thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện số: 13/TB-CAX và yêu cầu Nguyễn Văn T phải đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình hoặc đến đăng ký cai nghiện ma túy bằng thuốc Methadone tại UBND xã Tuấn Sơn, theo quy định tại Điều 28 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Cùng ngày, Chủ tịch UBND xã Tuấn Sơn ban hành Quyết định dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy.
Ngày 26/02/2026, Trưởng Công an xã Tuấn Sơn ban hành Quyết định số: 14/QĐ-CAX về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và giao cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn quản lý trong thời gian lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Hết thời hạn thông báo, ngày 05/3/2026 Công an xã Tuấn Sơn tiến làm việc với Nguyễn Văn T thì được Nguyễn Văn T cho biết do điều kiện hoàn cảnh kinh tế của bản thân và gia đình khó khăn nên không tham gia cai nghiện điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone được, bản thân Nguyễn Văn T cũng có đơn từ chối tham gia cai nghiện tự nguyện. Cùng ngày, Công an xã Tuấn Sơn lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và ban hành Thông báo số: 15/TB-CAX về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ngày 06/3/2026, Công an xã Tuấn Sơn ban hành Công văn số 65/ĐN-CNBB đề nghị xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T.
Tại phiên họp, đại diện Công an xã Tuấn Sơn, tỉnh Lạng Sơn trình bày ý kiến: Nguyễn Văn T là người nghiện chất ma túy, đã được thông báo nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện, không đăng ký điều trị nghiện bằng thuốc thay thế tại UBND xã Tuấn Sơn và cũng không có điều kiện để tham gia đăng ký cai nghiện tự nguyện; đã từng bị Tòa án xét xử về tội vận chuyển hàng cấm và xử phạt vi phạm hành chính hành vi Gây rối trật tự công cộng nên Công an xã Tuấn Sơn, tỉnh Lạng Sơn lập hồ sơ đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T, với thời hạn từ 16 tháng đến 20 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn phát biểu ý kiến:
Việc giải quyết vụ việc kể từ khi thụ lý đến thời điểm phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn đã thực hiện đúng quy định tại khoản 1 Điều 5 Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sửa đổi Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Điều 3, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 12, Điều 13, Điều 17, Điều 18, Điều 21 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 104, Điều 105, Điều 106 Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi bổ sung năm 2025; Khoản 1 Điều 40, khoản 1 Điều 41; khoản 1, 2, 3 Điều 42; Điều 44; Điều 46 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy. Xét thấy có căn cứ đưa Nguyễn Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian chấp hành từ 16 - 20 tháng là phù hợp theo mức đề nghị của Công an xã Tuấn Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
XÉT THẤY:
[1] Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Hồ sơ đầy đủ các tài liệu theo quy định tại Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính, được sửa đổi, bổ sung năm 2025 và khoản 1 Điều 40, khoản 1 Điều 41, khoản 1, 2, 3 Điều 42, Điều 44 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy. Cụ thể, hồ sơ đề nghị đã có đầy đủ các giấy tờ, tài liệu gồm: Biên bản vi phạm hành chính, bản tóm tắt lý lịch, tài liệu chứng minh tình trạng nghiện hiện tại, bản tường trình của người bị đề nghị; Quyết định về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; các tài liệu chứng minh hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng, thể hiện rõ hành vi vi phạm hành chính về sử dụng trái phép chất ma túy, phù hợp theo quy định tại Điều 95, 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục: Theo khoản 1 Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính, Nguyễn Văn T có nơi thường trú ổn định tại thôn V, xã T, tỉnh Lạng Sơn nên thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị là Trưởng Công an xã Tuấn Sơn và Công an xã có trách nhiệm thu thập tài liệu lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T.
Về đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Nguyễn Văn T, sinh ngày 02/01/1994, đã trên 18 tuổi và có năng lực trách nhiệm hành chính nên đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Về thời hiệu áp dụng: Đảm bảo thời hiệu 03 (ba) tháng kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm, theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Nguyễn Văn T là người nghiện chất ma túy nhưng không đăng ký cai nghiện tự nguyện, không đăng ký điều trị nghiện bằng thuốc thay thế tại Ủy ban nhân dân xã Tuấn Sơn và có đơn từ chối đăng ký điều trị nghiện bằng thuốc thay thế nên thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính; khoản 12 Điều 2, khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021.
Nguyễn Văn T là người có đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm các quy định của pháp luật về chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự của địa phương nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Nguyễn Văn T đã không tuân thủ các quy định của pháp luật về cai nghiện ma túy tự nguyện, vẫn cố ý thực hiện hành vi vi phạm. Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở khẳng định hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T là đầy đủ, hợp pháp, thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm mà Nguyễn Văn T gây ra, cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T trong một khoảng thời gian nhất định, đủ để Nguyễn Văn T có thời gian lao động, học văn hóa, học nghề, sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc; giáo dục Nguyễn Văn T trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên cũng cần xem xét đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của đối tượng để đưa ra mức áp dụng cho phù hợp.
Xét về nhân thân: Nguyễn Văn T là người bị lệ thuộc vào chất ma túy từ năm 2016, sử dụng ma túy đang trong thời gian quản lý; Nguyễn Văn T đã bị xét xử về tội Vận chuyển hàng cấm và xử phạt vi phạm hành chính Gây rối trật tự công cộng.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ, Nguyễn Văn T tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến tại phiên họp, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, xét thấy mức đề nghị của Công an xã Tuấn Sơn, tỉnh Lạng Sơn và Viện kiểm sát nhân dân khu 4 - Lạng Sơn tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật, cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 104, Điều 105, Điều 106 và Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy.
Căn cứ Điều 3, Điều 8, Điều 9, Điều 18, Điều 21, Điều 23, Điều 24, Điều 25, Điều 31, Điều 32, Điều 33 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Căn cứ khoản 1 Điều 5 Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sửa đổi Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Căn cứ khoản 1 Điều 40, khoản 1 Điều 41, khoản 1, 2, 3 Điều 42, Điều 44 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T, sinh ngày 02 tháng 01 năm 1994; nơi cư trú: Thôn V, xã T, tỉnh Lạng Sơn.
Địa điểm cai nghiện bắt buộc: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn. Địa chỉ: Km10, xã Tân Đoàn, tỉnh Lạng Sơn.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn tiếp nhận, quản lý trong thời gian lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định:
Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính vắng mặt tại phiên họp có quyền khiếu nại quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.
Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã Tuấn Sơn, tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Người bị áp dụng; - Công an xã Tuấn Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - UBND xã Tuấn Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - VKSND khu vực 4 - Lạng Sơn; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Mạnh Cường |