- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "CÔNG - NGUYỆT"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định ông C; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TP TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2020/HNGĐ-ST Ngày: 16 - 4 - 2020 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TP, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Phi.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Công Gia.
2. Ông Nguyễn Quang Chung.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Minh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện TP.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Luật – Kiểm sát viên.
Ngày 16/4/2020, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện TP, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 45/2020/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2020 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 23/3/2020 và Thông báo thay đổi lịch xét xử số 205/TB – TA ngày 01/4/2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Mai Văn C, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Số nhà 43/7, tổ 3, ấp ĐT, xã TS, huyện TP, tỉnh Đồng Nai.
Bị đơn: Bà Lê Thị Thanh N, sinh ngày 1984.
Địa chỉ: Số nhà 84/14, ấp TT 1, xã PL, huyện TP, tỉnh Đồng Nai.
(Tại phiên tòa vắng mặt ông C, bà N (ông C, bà N có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07/02/2020, lời khai trong quá trình tố tụng ý kiến, yêu cầu của nguyên đơn ông Mai Văn C thể hiện:
Ông và bà Lê Thị Thanh N tự nguyện tìm hiểu yêu thương rồi tiến tới chung sống với nhau vào năm 2010. Hôn nhân của ông bà được Uỷ ban nhân dân xã PL, huyện TP, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 19/05/2010. Cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xuất phát từ việc vợ chồng không còn thấy hợp nhau nữa, bất đồng trong quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân được 01 (một) năm nay. Nhận thấy không còn tình cảm với bà N nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Lê Thị Thanh N.
Về con chung: Ông và bà N có 02 (hai) con chung là Mai Lê Quỳnh N1, sinh ngày 10/12/2010 và Mai Lê Hoàng T, sinh ngày 10/04/2015. Khi ly hôn, ông đồng ý giao cả hai cháu cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng và ông không cấp dưỡng nuôi con chung do bà N không yêu cầu.
Về tài sản chung: Ông kê khai vợ chồng không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Ông kê khai vợ chồng không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Theo biên bản lấy lời khai ngày 19/3/2020 ý kiến, yêu cầu của bị đơn bà Lê Thị Thanh N thể hiện:
Bà và ông Mai Văn C tự nguyện tìm hiểu yêu thương rồi tiến tới chung sống với nhau vào năm 2009. Hôn nhân của ông bà được Uỷ ban nhân dân xã PL, huyện TP, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 19/05/2010. Cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xuất phát từ việc ông C không chăm lo cho gia đình. Vợ chồng đã sống ly thân được 01 (một) năm nay. Trong thời gian ly thân, ông C không qua lại, thăm nom vợ, con. Nay ông C yêu cầu ly hôn mặc dù tình cảm không còn nhưng do theo đạo công giáo nên bà không đồng ý thuận tình ly hôn.
Về con chung: Bà và ông C có 02 (hai) con chung là Mai Lê Quỳnh N1, sinh ngày 10/12/2010 và Mai Lê Hoàng T, sinh ngày 10/04/2015. Khi ly hôn, bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu và không yêu cầu ông C phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Bà kê khai vợ chồng không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Bà kê khai vợ chồng không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án ông C đã cung cấp những tài liệu, chứng cứ sau: CMND của ông C (bản sao); Sổ hộ khẩu của ông C (bản sao); Đơn xin xác nhận HKTT của bà N (bản chính); Giấy chứng nhận kết hôn (bản sao); Giấy khai sinh (bản sao).
Để giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ sau: Bản tự khai của nguyên đơn; Biên bản lấy lời khai của bị đơn, Đơn xin thể hiện nguyện vọng; Biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân, điều kiện nuôi con của các đương sự. Các tài liệu, chứng cứ nêu trên đã được Tòa án ra thông báo cho các bên đương sự biết đồng thời tiến hành mở phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận C khai chứng cứ và hòa giải và ra thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, C khai chứng cứ cho những người vắng mặt theo đúng quy định của pháp luật.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm:
- Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình thụ lý, giải quyết và tại phiên tòa xét xử sơ thẩm; Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và các đương sự tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn.
+ Về quan hệ hôn nhân: Cho ông C được ly hôn bà N.
+ Về quan hệ nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Giao 02 (hai) con chung là Mai Lê Quỳnh N1, sinh ngày 10/12/2010 và Mai Lê Hoàng T, sinh ngày 10/04/2015 cho bà N nuôi dưỡng. Ông C không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà N không yêu cầu.
+ Về tài sản chung: Ông C, bà N khai báo ông bà không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án xem xét.
+ Về nợ chung: Ông C, bà N khai báo ông bà không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
+ Về án phí: Ông C phải chịu 300.000đ án phí DSST về ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại phiên tòa, ông C, bà N vắng mặt do ông bà có đơn xin vắng mặt nên các đương sự không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào khác.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về áp dụng pháp luật tố tụng:
. Xác định thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật: Bà N có địa chỉ tại ấp TT 1, xã PL, huyện TP, tỉnh Đồng Nai. Vì vậy, căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện TP. Ông C yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Vì vậy cần xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Xác định tư cách đương sự: Ngày 07/02/2020, ông C khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà N. Căn cứ theo khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định ông C là nguyên đơn, bà N là bị đơn trong vụ án.
- Ông C, bà N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
. Về áp dụng pháp luật nội dung:
. Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa ông C và bà N được xác lập vào năm 2010. Hôn nhân của ông bà được Uỷ ban nhân dân xã PL, huyện TP, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 19/05/2010. Ông C có đơn yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết theo thủ tục chung về ly hôn mà Luật hôn nhân và gia đình quy định.
Xét lời khai của ông C, bà N và tài liệu, chứng cứ thu thập trong quá trình tiến hành tố tụng thể hiện: Quá trình chung sống vợ chồng ông bà sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xuất phát từ việc vợ chồng không còn tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống. Qua xác minh tại địa phương thể hiện đời sống chung của vợ chồng ông bà không còn hạnh phúc. Ông bà đã sống ly thân được 01 (một) năm nay. Trong thời gian sống ly thân, ông bà ít qua lại, thông tin liên lạc và không trực tiếp trao đổi để vợ chồng có cơ hội về chung sống đoàn tụ với nhau.
Nay ông C nhận thấy tình cảm không còn, không thể tiếp tục chung sống nên ông yêu cầu ly hôn với bà N. Bà N thừa nhận hiện nay vợ chồng đã không còn tình cảm do ông C không còn chăm lo, thăm hỏi đến vợ, con. Tuy nhiên, do theo đạo công giáo nên bà không đồng ý thuận tình ly hôn.
Như vậy, có căn cứ xác định ông bà đã vi phạm nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Để ông bà sớm có điều kiện ổn định cuộc sống của mình, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp chận yêu cầu của ông C, cho ông được ly hôn với bà Nguyêt.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục cấp, tống đạt, niêm yết: Thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập đương sự và các tài liệu, chứng cứ do đương sự giao nộp cũng như Tòa án thu thập được cho các bên đương sự. Tòa án đã thông báo và mở phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Tại phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ ông C không có ý kiến gì và không bổ sung gì thêm.
. Về quan hệ nuôi dưỡng con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Ông C, bà N có 02 (hai) con chung là Mai Lê Quỳnh N1, sinh ngày 10/12/2010 và Mai Lê Hoàng T, sinh ngày 10/04/2015.
Xét nguyện vọng nuôi con của bà N: Cháu N1 và cháu T hiện do bà N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng kể từ khi ông C bỏ đi nơi khác ở cho đến nay. Khi ly hôn các bên đều có quyền được nuôi con, bà N có nguyện vọng nuôi dưỡng cả hai cháu và ông C đồng ý giao cả hai con chung cho bà N nuôi dưỡng.
Do các cháu còn nhỏ và quen với môi trường chăm sóc, nuôi dưỡng của người mẹ, Hội đồng xét xử nhận thấy cần giữ nguyên nếp sống sinh hoạt hiện nay nhằm đảm bảo ổn định tâm lý cho các cháu và phù hợp với nguyện vọng của cháu Như nên chấp nhận nguyện vọng nuôi con của bà N là phù hợp với quy định của pháp luật.
Bà N không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét mức cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn. Khi nào có tranh chấp về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác.
. Về tài sản chung: Ông C, bà N khai báo không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, không xem xét.
. Về nợ chung: Ông C, bà N khai báo không có Vì vậy, không xem xét.
. Về án phí: Ông C phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí DSST về ly hôn.
. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Xét quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 28, 35, 39, 147, khoản 1 Điều 228, Điều 235, 238 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 19, 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;
- Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Mai Văn C.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Mai Văn C được ly hôn bà Lê Thị Thanh N.
- Về con chung: Ông C, bà N có 02 (hai) con chung là Mai Lê Quỳnh N1, sinh ngày 10/12/2010 và Mai Lê Hoàng T, sinh ngày 10/04/2015.
Giao cháu Mai Lê Quỳnh N1 và Mai Lê Hoàng T cho bà Lê Thị Thanh N trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời ông C không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà N không yêu cầu. Ông C có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được gây trở ngại. Vì lợi ích của con chung các đương sự được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí: Ông C phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí DSST về ly hôn. Số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) ông C đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu số 005758 ngày 13/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện TP, tỉnh Đồng Nai chuyển thành án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Ông Mai Văn C và bà Lê Thị Thanh N có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND huyện TP; - Chi cục THA huyện TP; - Các đương sự (để thi hành); - UBND xã PL, huyện TP, tỉnh Đồng Nai (để ghi vào sổ hộ tịch theo số 49/2010, quyển số 01/2010 ngày 19/5/2010); - Lưu HS – LT. | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Phi |