vanban.org

Bản án 04/2026/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đề nghị của Công an phường Đ, thành phố Đà Nẵng.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong hạn 05 n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "XLHC.CN.HUYNHTANPHONG"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đề nghị của Công an phường Đ, thành phố Đà Nẵng.
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; Điều 33 Luật Phòng, chống ma túy; Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 – ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2026/QĐ - TAĐà Nẵng, ngày 01 tháng 6 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - ĐÀ NẴNG

Với thành phần những người tiến hành phiên họp gồm có:

- Thẩm phán chủ trì phiên họp: Ông Nguyễn Hữu P

- Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Quốc Tuấn Huy

Những người tham gia phiên họp:

1. Đại diện Công an phường Đ, thành phố Đà Nẵng (Cơ quan đề nghị): Ông Hồ Phương A, chức vụ: Cán bộ Công an phường Đ, thành phố Đà Nẵng (được phân công đại diện cơ quan đề nghị tham gia phiên họp).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Đà Nẵng: Ông Phan Ngọc Quà - Kiểm sát viên.

3. Người bị đề nghị: Huỳnh Tấn P1, vắng mặt.

Ngày 01 tháng 6 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Đà Nẵng, tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Văn bản đề nghị số 75/ĐN - CAP ngày 23/4/2026 của Công an phường Đ, thành phố Đà Nẵng và Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 1003/2026//QĐ - TA, ngày 19/5/2026 của TAND Khu vực 10 - Đà Nẵng, đối với người bị đề nghị: Huỳnh Tấn P1, sinh ngày 10/7/1986 tại Quảng Nam (nay là thành phố Đà Nẵng); căn cước công dân số: 049086005528; nơi cư trú: Khối phố C, phường Đ, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 12/12; con ông Huỳnh Tấn P2, sinh năm 1958 và bà Trương Thị P3, sinh năm 1960. Tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 24/12/2025, Huỳnh Tấn P1 bị chấm dứt điều trị các chất gây nghiện dạng thuốc phiện bằng chất thay thế do vi phạm quy định về điều trị nghiện.

NHẬN THẤY

Huỳnh Tấn P1 là đối tượng nghiện ma túy và đang điều trị các chất gây nghiện dạng ma túy bằng thuốc thay thế do Trung tâm kiểm soát bệnh tật thuộc Sở Y tế thành phố Đ quản lý. Trong thời gian điều trị, do vi phạm quy tắc điều trị, P1 bị Trung tâm kiểm soát bệnh tật thuộc Sở Y tế thành phố Đ thông báo chấm dứt điều trị. Theo trình bày của P1, sau khi tự ý bỏ dùng thuốc thay thế và bị cơ quan Y tế ra thông báo chấm dứt điều trị chất gây nghiện bằng thuộc thay thế, P1 đi khỏi địa phương và đến cư trú tại phường Đ, thành phố Đà Nẵng. P1 đã được giải thích quyền và nghĩa vụ của mình khi bị chấm dứt điều trị chất gây nghiện bằng thuốc thay thế và không có ý kiến gì.

Ngày 23/4/2026, Công an phường Đ, thành phố Đà Nẵng có văn bản đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Đà Nẵng xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Huỳnh Tấn P1; đồng thời lập thủ tục giao người bị đề nghị cho gia đình quản lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Tại phiên họp, đại diện Công an phường Đ, thành phố Đà Nẵng trình bày quan điểm: Huỳnh Tấn P1 là thanh niên đã trên 18 tuổi nhưng bản thân không tu chí làm ăn; đã được lập hồ sơ để điều trị các chất gây nghiện dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế nhưng tự ý bỏ dùng thuốc và bị chấm dứt điều trị; sau khi bị chấm dứt điều trị, P1 đi khởi địa phương, không đến làm thủ tục quản lý người nghiện ma túy theo quy định. Do đó, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy số 01 thành phố Đà Nẵng (địa chỉ: Thôn L, phường H, thành phố Đà Nẵng) đối với Huỳnh Tấn P1, thời hạn đề nghị áp dụng từ 21 tháng đến 24 tháng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Đà Nẵng: Từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và người khác tham gia phiên họp thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc lập hồ sơ, xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Huỳnh Tấn P1. P1 là đối tượng đang được điều trị các chất gây nghiện dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế nhưng tự ý bỏ điều trị, vi phạm quy tắc điều trị và bị Cơ sở điều trị ra thông báo chấm dứt điều trị các chất gây nghiện bằng thuốc thay thế. Từ đó, đề nghị Tòa án căn cứ Điều 95, Điều 96, Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính, chấp nhận đề nghị của Công an phường Đ, thành phố Đà Nẵng, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Huỳnh Tấn P1, thời hạn đề nghị áp dụng từ 15 tháng đến 18 tháng.

Người bị đề nghị vắng mặt tại phiên họp nên không có ý kiến gì; các bên không có tranh luận, đối đáp.

Sau khi xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của những người tham gia phiên họp.

XÉT THẤY

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị đưa Huỳnh Tấn P1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do Công an phường Đ, thành phố Đà Nẵng lập và chuyển cho Tòa án là đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 116/2021/NĐ - CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số Điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đảm bảo theo quy định tại Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xét tính chất, mức độ hành vi vi phạm của người bị đề nghị: Huỳnh Tấn P1 là người đủ 18 tuổi; có nơi cư trú ổn định. P1 là đối tượng đang được điều trị các chất gây nghiện dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế nhưng tự ý bỏ điều trị, không tuân thủ quy trình điều trị và bị Cơ sở điều trị chấm dứt điều trị. Từ đó, cần chấp nhận đề nghị của Công an phường Đ, thành phố Đà Nẵng và quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên họp; căn cứ Điều 32, 33 Luật Phòng, chống ma túy; các Điều 95, 96 Luật xử lý vi phạm hành chính để áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Huỳnh Tấn P1, với thời hạn phù hợp, đảm bảo cho P1 có điều kiện để chữa bệnh, lao động, học tập dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hành chính; các đặc điểm về nhân thân và lý lịch của người bị đề nghị thì thấy: Huỳnh Tấn P1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hành chính. P1 tham gia điều trị các chất gây nghiện dạng thuốc phiện từ năm 2013 nhưng không chấp hành đúng liệu trình điều trị và lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân, phấn đấu trở thành người tốt mà lại lại có hành vi tự ý chấm dứt việc điều trị, thể hiện P1 có ý thức chấp hành pháp luật không tốt và tiềm ẩn nguy cơ tiếp tục vi phạm pháp luật.

Về các tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hành chính: Quá trình lập hồ sơ, Huỳnh Tấn P1 hợp tác; thành khẩn, hối lỗi về hành vi vi phạm hành chính của mình nên cần xem xét giảm nhẹ một phần thời gian chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Huỳnh Tấn P1.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Chấp nhận đề nghị của Công an phường Đ, thành phố Đà Nẵng. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 01 thành phố Đà Nẵng (địa chỉ: Thôn L, phường H, thành phố Đà Nẵng), đối với người bị đề nghị: Huỳnh Tấn P1, sinh ngày 10/7/1986 tại Quảng Nam (nay là thành phố Đà Nẵng); căn cước công dân số: 049086005528; nơi cư trú: Khối phố C, phường Đ, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 12/12; con ông Huỳnh Tấn P2, sinh năm 1958 và bà Trương Thị P3, sinh năm 1960.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong hạn 05 ngày kể từ ngày Tòa án công bố quyết định; người bị đề nghị có quyền khiếu nại quyết định này trong hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định, theo quy định tại Điều 31, Điều 32 và Điều 33 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Công an phường Đ, thành phố Đà Nẵng; Cơ sở cai nghiện ma túy số 01 thành phố Đà Nẵng có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ