vanban.org

Bản án 04/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Y Đ Mlô phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Y Đ Mlô 02 (Hai) năm tù. Thời gian chấp hành án tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 18/10/2025. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Y Đ - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Y Đ Mlô phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 256a Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 - ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2026/HSST
Ngày: 21/01/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC A - ĐĂK LĂK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Lương Tú Huân

2. Ông: Nguyễn Khắc Vũ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Công Đức - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực A - Đăk Lăk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực A - Đăk Lăk tham gia phiên toà: Ông Ksơr Y Kơn - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2026, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân Khu vực A

- Đăk Lăk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2025/HSST, ngày 30 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2026/QĐXXST

- HS ngày 07 tháng 01 năm 2026 và Thông báo chuyển lịch phiên tòa số 07/TB-TA, ngày 20/01/2026, đối với bị cáo:

Họ và tên: Y Đ Mlô; Giới tính: Nam; Sinh ngày 06/5/2004, tại tỉnh Đăk Lăk; Số CCCD: 0660204014250; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Buôn B, xã K, tỉnh Đắk Lắk; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Ê Đê; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Y Th Niê, con bà: H H Mlô; Bị cáo chưa có vợ; Tiền án: không; tiền sự: có 01 tiền sự.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/10/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam E - Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Đăk Lăk cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Bích N - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước số 1, tỉnh Đăk Lăk. Địa chỉ: Số X, LTK, B, Đăk Lăk.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Y Đ Mlô là đối tượng nghiện ma túy, đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 52/2024/QĐ-TA, ngày 21/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện E, tỉnh Đăk Lăk. Y Đ đã chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Giấy chứng nhận 254/CN-CSCNMT, ngày 30/7/2024 của Cơ sở cai nghiện ma túy. Sau khi về lại nơi cư trú, Y Đ đã được UBND xã N, huyện E (nay là xã K), tỉnh Đăk Lăk áp dụng Quyết định quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú, thời hạn quản lý từ ngày 29/8/2024 đến 28/8/2026. Trong thời gian này, Y Đ đã được chính quyền địa phương cùng gia đình giải thích, giáo dục và cho viết cam kết về việc chấp hành Luật Phòng chống ma túy; phổ biến quy định về Điều 256a của Bộ luật Hình sự.

Trong thời gian quản lý sau cai nghiện, vào khoảng 20 giờ ngày 01/10/2025, khi Y Đ đang ở khu vực chợ 72 thuộc xã K, tỉnh Đăk Lăk thì gặp Y D1 và Y D2 (không rõ nhân thân, lai lịch), rủ Y Đ đi sử dụng ma túy thì Y Đ đồng ý. Sau đó, Y Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Hi Suda, biển số 47L4 - 5685 đi theo Y D1 và Y D2 đến khu vựa nghĩa địa (không rõ vị trí cụ thể, Y Đ không xác định được hiện trường. Tại đây có Y D1, Y D2 và 01 nam thanh niên (không rõ nhân thân). Sau đó, Y D1 lấy ma túy và bộ dụng cụ ra, rồi tất cả đều sử dụng ma túy, loại ma túy đá (methamphetamine). Sau khi sử dụng xong, Y Đ về nhà tại Buôn B, xã K, tỉnh Đăk Lăk. Đến ngày 07/10/2025, công an xã K tiếp nhận tin tố giác của ông Y Th Niê (là cha của Y Đ Mlô) về việc Y Đ có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy, kích động, la hét nên công an xã K, tỉnh Đăk Lăk đã triệu tập Y Đ lên làm việc. Qua kiểm tra nhanh mẫu nước tiểu của Y Đ, cho kết quả dương tính với ma túy, loại Methamphetamine nên tiến hành thu mẫu nước tiểu của Y Đ Mlô, niêm phong trưng cầu giám định theo quy định.

Tại bản kết luận giám định số: 846/KL-KTHS, ngày 16/10/2025 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Đăk Lăk kết luận: Mẫu nước tiểu được niêm phong (thu giữ của Y Đ Mlô) gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine.

Về thu giữ đồ vật, tài liệu, xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô nhãn hiệu Hi Suda, biển số 47L4-5685 là của ông Y Th Niê làm chủ sở hữu hợp pháp. Việc Y Đ Mlô sử dụng xe vào ngày 01/10/2025 để đi sử dụng trái phép chất ma túy ông Y Th không biết nên không thu giữ, xử lý.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và cũng không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 30/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực A - Đăk Lăk, đã truy tố bị cáo Y Đ Mlô về tội: "Sử dụng trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực A - Đăk Lăk giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 30/12/2025, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Y Đ Mlô phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, xử phạt bị cáo Y Đ Mlô từ 02 (hai) năm đến 02 năm 06 tháng (Hai năm sáu tháng) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 18/10/2025.

Các biện pháp tư pháp:

- Về xử lý vật chứng: Việc Y Đ Mlô sử dụng chiếc xe mô tô biển số 47L4 - 5685 làm phương tiện đi sử dụng trái phép chất ma túy, ông Y Th Niê là chủ sở hữu hợp pháp không biết nên không có căn cứ thu giữ, xử lý.

- Về trách nhiệm dân sự: Không.

Đối với Y D1, Y D2 và người thanh niên cùng sử dụng ma túy với Y Đ do không xác minh được nhân thân lai lịch nên không có căn cứ xử lý.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và cũng không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo trình bày ý kiến:

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy mới được quy định bổ sung trong Bộ luật Hình sử nên đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét cho bị cáo. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo, việc bị cáo sử dụng ma túy là do bị rủ rê, hành vi bộc phát, không chủ ý từ trước. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, thuộc hộ cận nghèo. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 để làm căn cứ áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Giữ nguyên quan điểm đã trình bày.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã hối hận về hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực A - Đăk Lăk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của người bị hại, người tham gia tố tụng khác đều không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy, khoảng 20 giờ ngày 01/10/2025 Y Đ Mlô đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Loại Methamphetamine.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ.

Xét thấy, mặc dù đang trong thời hạn bị quả lý sau cai nghiện ma túy theo quy định Luật phòng, chống ma túy nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Do đó, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực A - Đăk Lăk đối với bị cáo Y Đ Mlô về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật. Tại điều luật này quy định như sau:

Tại Điều 256a Bộ luật hình sự quy định như sau:

“1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:

...

b. Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện mua túy của Luật Phòng, chống ma túy;”

Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy, đã được giáo dục về việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm Điều 256a Bộ luật Hình sự. Mặt khác, bị cáo nhận thức được sử dụng ma túy là tổn hại sức khỏe, ma túy thuộc sự quản lý độc quyền của nhà nước. Tuy nhiên, do ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới phát huy được tác dụng cải tạo, giáo dụng bị cáo, góp phần răn đe phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là người dân tộc thiểu số, có trình độ học vấn thấp. Do vậy, khi quyết định hình phạt cần xem xét cân nhắc giảm cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Đối với Y D1, Y D2 và người thanh niên cùng sử dụng ma túy với Y Đ, chưa xác minh được nhân thân lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.

. Các biện pháp tư pháp:

- Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô nhãn hiệu Hi Suda, biển số 47L4-5685 là của ông Y Th Niê làm chủ sở hữu hợp pháp. Việc Y Đ Mlô sử dụng xe vào ngày 01/10/2025 để đi sử dụng trái phép chất ma túy ông Y Th không biết nên không có căn cứ thu giữ, xử lý.

Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo, xin miễn tiền án phí. Do vậy miễn toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Y Đ Mlô phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025:

Xử phạt bị cáo Y Đ Mlô 02 (Hai) năm tù. Thời gian chấp hành án tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 18/10/2025.

Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí đối với bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ