- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trí Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2026/HS-ST Ngày 23-01-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Điển;
Ông Ngô Quốc Tiệp.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Đô, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 8 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Võ Thành Hay – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2025/HSST ngày 31 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2026/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:
Nguyễn Trí Q, sinh ngày X/C/V, tại phường K H, thành phố Cần Thơ. Nơi cư trú: khu vực TT B, phường K H, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Út T, sinh SS (sống) và bà Phan Thị Cẩm T1, sinh năm OO (chết năm DD); vợ Nguyễn Như Y, sinh năm UU; có 02 con (lớn sinh năm 2021, nhỏ sinh năm 2025); tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/9/2025 đến ngày 18/9/2025 chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Bạch Tú Q1, sinh năm FF (vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu vực CS, phường VC, thành phố Cần Thơ.
+ Ông Nguyễn Út T, sinh năm SS (có mặt).
Nơi cư trú: Khu vực TT B, phường K H, thành phố Cần Thơ
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc khoảng 00 giờ 10 phút ngày 09/9/2025, bị cáo Nguyễn Trí Q ngồi trên xe mô tô biển kiểm soát 83V1-17ZZZ tại Hẻm 35 đường Nguyễn Thị Minh Khai, thuộc khu vực 2, phường Vĩnh Châu, thành phố Cần Thơ có biểu hiện nghi vấn nên bị Tổ tuần tra, kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự Công an phường Vĩnh Châu tiến hành kiểm tra thì phát hiện trong túi quần Jean của Q có cất giấu 01 đoạn ống nhựa không màu được hàn kín bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng, 01 đoạn ống thủy tinh trong suốt uốn cong dạng phễu. Bị cáo Quy thừa nhận những vật nêu trên là ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy được bị cáo Quy mua để sử dụng nên Công an phường Vĩnh Châu đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong tang vật nghi là ma túy để gửi giám định, cùng chiếc xe mô tô biển kiểm soát 83V1-17ZZZ. Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Trí Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản kết luận giám định số: 981/KL-KTHS ngày 16/9/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự thuộc Công an thành phố Cần Thơ kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1392 gam.
Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Trí Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên đã nêu. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì về kết luận giám định.
Tại Cáo trạng số 15/CT-VKSKV8 ngày 30/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ đã truy tố bị cáo Nguyễn Trí Q về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025).
Kiểm sát viên giữ quyền công tố nhà nước tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Trí Q về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Trí Q thừa nhận: Vì muốn có ma túy để sử dụng nên vào ngày 08/9/2025, bị cáo Quy đã lên mạng xã hội Facebook từ tài khoản Nguyễn Trí Q liên lạc với tài khoản Tú Q1 để đặt mua ma túy số tiền 300.000 đồng. Sau khi đã thỏa thuận, bị cáo Quy lấy 01 đoạn ống thủy tinh trong suốt uốn cong dạng phễu để vào túi quần bên trái, điều khiển xe mô tô biển số 83V1-17ZZZ của ông Nguyễn Út T là cha bị cáo đến căn nhà không số, Hẻm 35 đường Nguyễn Thị Minh Khai, thuộc khu vực 2, phường Vĩnh Châu, thành phố Cần Thơ. Khi đến điểm hẹn, có người mở cửa sổ đưa cho bị cáo Huy 01 đoạn ống nhựa không màu chứa ma túy, bị cáo Huy đã trả 300.000 đồng và lên xe chuẩn bị đi thì bị Tổ tuần tra, kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự Công an phường Vĩnh Châu phát hiện bắt quả tang.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Út T trình bày: Việc bị cáo Quy lấy xe mô tô biển số 83V1-17ZZZ của ông để đi mua ma túy thì ông không biết. Nay ông yêu cầu được nhận lại xe mô tô biển số 83V1-17ZZZ.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận Cáo trạng số 15/CT-VKSKV8 ngày 30/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ tuyên bố bị cáo Nguyễn Trí Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đề nghị áp dụng điểm điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025 xử phạt bị cáo Nguyễn Trí Q từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về vật chứng đề nghị: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong 0,1058 gam ma túy (mẫu còn lại sau giám định), loại Methamphetamine đã được niêm phong trong gói niêm phong số 981/KL-KTHS ngày 18/9/2025; 01 (một) đoạn ống thủy tinh trong suốt được uốn cong hình dạng phễu.
Đề nghị áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo Quy: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng bị vỡ màn hình; trả lại cho ông Nguyễn Út T: 01 (một) chiếc xe mô tô biển số 83V1-17ZZZ; trả lại cho bà Bạch Tú Q1: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu đen và số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng).
Trong phần lời nói sau cùng bị cáo Nguyễn Trí Q trình bày ý kiến xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cần Thơ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bạch Tú Q1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, không có lý do. Xét thấy, tại giai đoạn điều tra bà Q đã có lời khai rõ ràng, việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử thống nhất căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng bà Bạch Tú Q1.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trí Q thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo là vào khoảng 00 giờ 10 phút ngày 09/9/2025, bị cáo Quy đi đến Hẻm 35 đường Nguyễn Thị Minh Khai, thuộc khu vực 2, phường Vĩnh Châu, thành phố Cần Thơ để mua ma túy từ một người không rõ nhân thân lai lịch với giá 300.000 đồng là 01 đoạn ống nhựa không màu được hàn kín bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng. Sau khi mua xong bị cáo Quy lên xe mô tô biển kiểm soát 83V1-17ZZZ chuẩn bị rời đi thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang bị cáo đang tàng trữ 01 đoạn ống nhựa không màu được hàn kín bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng vừa mua, qua kếtt quả giám định giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1392 gam.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản thực nghiệm điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ. Mục đích của bị cáo tàng trữ trái phép số ma túy là để sử dụng. Cho nên, có căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Trí Q phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025). Do đó, Cáo trạng số 15/CT-VKSKV8 ngày 30/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ đã truy tố bị cáo Nguyễn Trí Q về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Trí Q là nguy hiểm cho xã hội; bị cáo là người đã thành niên và có đầy đủ năng lực hành vi để biết rằng việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật và bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng thoả mãn cho nhu cầu nghiện hút ma tuý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, không chỉ xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về quản lý các chất ma túy mà còn gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng cho sức khoẻ con người, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt và góp phần phòng chống tội phạm chung cho toàn xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm vào các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung các năm 2017, 2025).
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành gồm: 01 (một) gói niêm phong 0,1058 gam ma túy (mẫu còn lại sau giám định), loại Methamphetamine đã được niêm phong trong gói niêm phong số 981/KL-KTHS ngày 18/9/2025; 01 (một) đoạn ống thủy tinh trong suốt được uốn cong hình dạng phễu.
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho chủ sở hữu các tài sản sau vì không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trí Q: 01 (một) cái điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, màu vàng bị vỡ màn hình; trả lại cho ông Nguyễn Út T: 01 (một) chiếc xe mô tô biển số 83V1-17ZZZ; trả lại cho bà Bạch Tú Q1: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu đen và số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng).
Đối với người lạ mặt bán ma túy cho bị cáo Quy, do bị cáo Quy không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể và đặc điểm nhận dạng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cần Thơ chưa có căn cứ xác định nhân thân, lai lịch để xử lý trong vụ án này mà sẽ tiếp tục làm rõ để xử lý sau theo quy định.
Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trí Q là người bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH :
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025);
- Căn cứ điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trí Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tuyên xử:
1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trí Q 03 (ba) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 09/9/2025.
2. Về vật chứng:
2.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong 0,1058 gam ma túy (mẫu còn lại sau giám định), loại Methamphetamine đã được niêm phong trong gói niêm phong số 981/KL-KTHS ngày 18/9/2025; 01 (một) đoạn ống thủy tinh trong suốt được uốn cong hình dạng phễu.
2.2. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trí Q: 01 (một) cái điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, màu vàng bị vỡ màn hình; Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Út T: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu EXCITER, màu bạc đen, biển số 83V1-17ZZZ; Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bạch Tú Q1: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu đen và số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng).
(Vật chứng trên hiện Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Cần Thơ đang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07/04/2026).
3. Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Trí Q phải chịu là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm.
5. Về việc thi hành án: Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TPCT; - VKSND TPCT; - Công an TPCT; - VKSND KV8-CT; - Bị cáo; NCQLNVLQ; - Phòng THADS KV8-CT; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Mến |