vanban.org

Bản án 04/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội "Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn T 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Bùi Văn T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn T phạm tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm - phạm tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp,…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội "Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2026 /HS - ST
Ngày 20/01/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Giang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Tường Vân

2. Bà Mai Thị Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Trà - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2026, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 7

- Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2025/TLST - HS ngày 19 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2026/QĐXXST – HS ngày 06/01/2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Văn T – sinh ngày 02/01/1968 tại xã Y, tỉnh P. CCCD: 017068xxxxxx. Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Xóm M, xã Y, tỉnh P. Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: 3/10; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn T1 (đã chết) và con bà Bùi Thị T2 - sinh năm: 1944. Gia đình bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ 2; Bị cáo có vợ là Bùi Thị K - sinh năm 1975, bị cáo có 03 con (con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 2005). Tiền án: không; tiền sự: không. Nhân thân: Năm 2023, bị Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh H xử phạt 07 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 19/01/2022, Bùi Văn T, sinh năm 1968, trú tại xóm M, xã Y, huyện Y, tỉnh H (nay là xã Y, tỉnh P) điều khiển xe ô tô con loại 5 chỗ, nhãn hiệu Huyndai Accent, biển kiểm soát 28A-xxx.xx đi từ nhà tại xã Y, tỉnh P đến xã Thạch Quảng, huyện Thạch Thành (nay là xã Thạch Quảng), tỉnh Thanh Hóa để chơi. Do trước đó T được bạn bè xã hội giới thiệu tại chợ Thạch Quảng có bán động vật rừng nên T đã đến chợ để tìm mua động vật rừng với mục đích mua về để sử dụng trong dịp Tết nguyên đán. Tại khu vực chợ Thạch Quảng thuộc xã Thạch Quảng, tỉnh Thanh Hóa, Bùi Văn T gặp một người đàn ông trung tuổi (không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể). Qua trao đổi, người đàn ông này nói có động vật rừng, hỏi T có mua không thì T đồng ý. Sau đó, người đàn ông này mang đến chỗ T 01 (một) túi nilon bên trong đựng 08 (tám) cá thể động vật đã chết, bị cạo sạch lông, lấy hết nội tạng và ở trạng thái cấp đông. Khi bán, người đàn ông lạ mặt nói với T trong túi có 01 con Culi, 03 con sóc bay và 04 con chồn, T mở túi ra xem thì thấy trong 08 cá thể động vật có 01 cá thể đúng là loài Culi vì có đặc điểm là mõm và đuôi không dài như cầy và sóc bay, T đồng ý mua với giá 2.000.000 đồng. Nhận được tiền người đàn ông đi đâu không rõ còn T cất túi nilon đựng 08 cá thể động vật vào cốp xe sau đó điều khiển xe quay về nhà tại xã Yên Trị, tỉnh P. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, khi T đang đi trên đường Hồ Chí Minh đoạn qua thôn Nghéo, xã Thạch Lâm, huyện Thạch Thành (nay là xã Thạch Quảng, tỉnh Thanh Hóa) thì bị tổ công tác liên ngành gồm: Công an huyện Thạch Thành, Công an xã Thạch Lâm, Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Thanh Hóa, Đội Quản lý thị trường số 05, Trạm Kiểm lâm Thạch Quảng, tiến hành kiểm tra xe và phát hiện trong cốp xe có 08 cá thể động vật gồm 04 (bốn) cá thể động vật nghi là loài cầy, 03 (ba) cá thể nghi là sóc bay, 01 (một) cá thể nghi là loài culi. Công an huyện Thạch Thành đã lập biên bản tạm giữ và ra Quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính số 01/BBTGTV-KTMT ngày 19/01/2022 bao gồm (08 cá thể động vật, phương tiện và giấy tờ phương tiện kèm theo).

Ngày 19/01/2022, Công an xã Thạch Lâm, huyện Thạch Thành đã có văn bản số 15/CATL về việc kiến nghị khởi tố đối tượng Bùi Văn T trong vụ việc tàng trữ, vận chuyển trái phép động vật hoang dã.

Tại bản kết luận giám định động vật số 155/STTNSV ngày 09/02/2022 của Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật - Viện hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam xác định trong 08 cá thể động vật giám định:

+ Có 03 cá thể là loài sóc bay lớn đen trắng, 04 cá thể là là loài chồn bạc má bắc. Loài sóc bay lớn đen trắng (tên khoa học là Petaurista alborufus) và Chồn bạc má bắc (có tên khoa học là Melogale moschata) không có trong danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy, cấp, quý, hiếm.

+ Có 01 cá thể là loài Cu li lớn (có tên khoa học là Nycticebus bengalensis) có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ; có tên trong nhóm IB, danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ; có tên trong Phụ lục I, Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) ban hành theo Thông báo số 296/TB-CTVN-HTQT ngày 27/11/2019 của Cơ quan quản lý CITES Việt Nam.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 25/02/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thạch Thành kết luận về giá của tài sản (08 cá thể động vật) gồm:

+ 03 cá thể động vật đông lạnh là loại sóc bay lớn đen trắng, có tên khoa học Petaurista alborufus có giá trị lần lượt là: 647.500 đồng, 612.500 đồng và 525.000 đồng.

+ 04 cá thể động vật đông lạnh là loại chồn bạc má bắc, có tên khoa học là Metogale moschata có giá trị lần lượt là: 480.000 đồng, 520.000 đồng, 720.000 đồng và 600.000 đồng.

+ 01 cá thể động vật đông lạnh nghi là loại Culi lớn, có tên khoa học là Nycticebus bengalensit không xác định được giá.

Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ:

- 08 cá thể động vật đông lạnh được cạo sạch lông, móc ruột (được mô tả cụ thể theo biên bản sự việc lập hồi 14 giờ 15 phút ngày 19/01/2022 tại Công an xã Thạch Lâm, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa).

- 01 ô tô con nhãn hiệu Huyndai, biển kiểm soát 28A-xxx.xx;

- 01 giấy phép lái xe mang tên Bùi Văn T;

- 01 giấy biên nhận thế chấp của ngân hàng của xe ô tô biểm kiểm soát 28A-130.26;

- 01 bản phô tô đăng ký xe biển kiểm soát 28A-xxx.xx

Quá trình điều tra xác định, chiếc xe ô tô BKS 28A-xxx.xx là tài sản chung của Bùi Văn T và vợ là bà Bùi Thị K (SN 1975, trú tại xóm M, xã Y, tỉnh P). Chiếc xe được thế chấp tại ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam (VIB). Xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe cùng giấy tờ kèm theo cho bà Bùi Thị K, trả lại cho Bùi Văn T 01 giấy phép lái xe theo quy định.

Sau khi có kết quả giám định và định giá tài sản, vật chứng là động vật hoang dã nên Cơ quan điều tra đã giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định pháp luật (đã tịch thu tiêu hủy theo biên bản tiêu hủy vật chứng ngày 21/3/2022).

Tại bản cáo trạng số: 21/CT- VKSKV7 ngày 19/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thanh Hoá đã truy tố bị cáo Bùi Văn T về tội "Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 244 BLHS.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: bị cáo Bùi Văn T phạm tội "Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.

Xử phạt: bị cáo Bùi Văn T từ 13 tháng đến 16 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Bùi Văn T.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Bùi Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án nên đủ sơ sở kết luận:

Do có nhu cầu mua động vật hoang dã để sử dụng vào dịp Tết nguyên đán nên vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 19/01/2022, Bùi Văn T đến khu vực chợ xã Thạch Quảng, tỉnh Thanh Hóa để tìm mua. Tại đây, Bùi Văn T đã gặp một người đàn ông lạ mặt và mua được 08 cá thể động vật hoang dã đã chết, bị cạo sạch lông, lấy hết nội tạng và ở trạng thái đông lạnh, gồm 01 con Cu li, 04 con chồn và 03 con sóc bay với giá 2.000.000 đồng. Đến 14 giờ cùng ngày, khi đang trên đường vận chuyển về nhà thì Bùi Văn T bị lực lượng chức năng phát hiện, lập biên bản vi phạm. Trong đó, loài Cu li lớn có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ; có tên trong nhóm IB, danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ; có tên trong Phụ lục I, Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) ban hành theo Thông báo số 296/TB-CTVN-HTQT ngày 27/11/2019 của Cơ quan quản lý CITES Việt Nam. Bùi Văn T nhận thức rõ hành vi mua bán, vận chuyển 01 cá thể Culi của mình là trái pháp luật do Culi lớn là động vật hoang dã thuộc danh mục nguy cấp, quý, hiếm cần được bảo vệ mà Nhà nước đã cấm mua bán, vận chuyển. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội "Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 244 BLHS như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi, hậu quả thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý, bảo vệ, phát triển loại đồng vật nguy cấp, quý, hiếm, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Để đấu tranh phòng chống và ngăn ngừa tội phạm cần thiết phải có hình phạt nghiêm minh đối với bị cáo để trừng phạt và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa và giáo dục những người khác tôn trọng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, trong quá trình lao động sản xuất bị cáo được tặng giấy khen, bị cáo có đóng góp cho quỹ học sinh nghèo vượt khó của địa phương, bị cáo có trình độ văn hoá thấp (lớp 3), là người dân tộc thiểu số nên nhận thức về pháp luật còn nhiều hạn chế. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý bảo vệ, phát triển loại đồng vật nguy cấp, quý, hiếm, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian. Tuy nhiên, bị cáo không có tiền án, tiền sự. Trước khi phạm tội có nhân thân tốt, trong nhiều năm liền gia đình bị cáo được UBND xã tặng giấy khen “Gia đình văn hoá”. Bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Vì vậy, xử bị cáo ở mức đầu khung hình phạt cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.

Về các vấn đề khác:

Về nguồn gốc 08 cá thể động vật thu giữ, T khai mua của một người đàn ông trung tuổi ở khu vực chợ Thạch Quảng thuộc xã Thạch Quảng, tỉnh Thanh Hóa. T khai báo không quen biết, không nhớ đặc điểm nhận dạng, không biết người đó tên là gì, ở đâu, không có số điện thoại, không có camera ghi nhận. Việc mua bán giữa đối tượng và bị cáo T không có nhân chứng, đến nay chưa xác định được đối tượng nghi vấn. Công an xã Thạch Quảng, tỉnh Thanh Hóa đã phát động quần chúng cung cấp thông tin, tố giác tội phạm nhưng đến nay vẫn không xác định được đối tượng nên không có căn cứ để điều tra mở rộng vụ án.

Đối với 07 cá thể (thu trong tổng 08 cá thể động vật) xác định không thuộc danh mục động vật nguy cấp, quý hiếm. Tuy nhiên, T bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ, mua bán, chế biến lâm sản trái pháp luật (là động vật rừng, bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của động vật rừng thông thường trị giá dưới 7.000.000 đồng) theo quy định tại điểm a, khoản 14, Điều 1 Nghị định 07/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ.

Về phần hình phạt bổ sung: Bản thân bị cáo làm ruộng, thu nhập thấp và không ổn định. Bên cạnh đó, vợ bị cáo bị nhiều bệnh dẫn đến sức khoẻ yếu, hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định, chiếc xe ô tô BKS 28A-xxx.xx là tài sản chung của Bùi Văn T và vợ là bà Bùi Thị K (trú tại xóm M, xã Y, tỉnh P). Chiếc xe được thế chấp tại ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam (VIB). Xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe cùng giấy tờ kèm theo cho bà Bùi Thị K, trả lại cho Bùi Văn T 01 giấy phép lái xe theo quy định.

Sau khi có kết quả giám định và định giá tài sản, vật chứng là động vật hoang dã nên Cơ quan điều tra đã giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định pháp luật (đã tịch thu tiêu hủy theo biên bản tiêu hủy vật chứng ngày 21/3/2022).

Về án phí: Bị cáo Bùi Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

2. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội "Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.

3. Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn T 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Bùi Văn T.

- Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Bùi Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014 thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự và điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ