- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo H - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đoàn Phú H phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2026/HS-ST Ngày 05/02/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Rô.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Kim An
2. Bà Trịnh Thị Thanh Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Anh, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5- Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Ngọc, Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2025/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2026/QĐXXST- HS ngày 20 tháng 01 năm 2026, đối với bị cáo:
Đoàn Phú H, sinh ngày 30 tháng 4 năm 1971, tại: xã Phước G, tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn Phước L, xã Phước G, tỉnh Quảng Ngãi; chỗ ở hiện nay: Thôn Đông Trúc L, xã Phước G, tỉnh Quảng Ngãi; thẻ CCCD: 051071009500, cấp ngày 01/6/2021, nơi cấp: Cục C06 Bộ Công an; nghề nghiệp: Nông; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Đoàn Khắc Th (đã chết) và bà Nguyễn Thị L; vợ: Nguyễn Thị Lan Ph; con: 02 con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án: Không; tiền sự: Không; đặc điểm nhân thân: Ngày 13/6/2024, bị cáo H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nghĩa H (cũ) khởi tố về tội đánh bạc, vụ án bị cấp phúc thẩm hủy, hiện đang trong giai đoạn điều tra lại; tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị Diệm, sinh năm 1943.
Trú tại: Thôn Đông Trúc L, xã Phước G, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt;
2. Bà Phan Thị V, sinh năm 1941.
Trú tại: Thôn Đông Trúc L, xã Phước G, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt;
3. Ông Nguyễn Đăng C, sinh năm 1968.
Trú tại: Thôn Đông Trúc L, xã Phước G, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt;
4. Ông Đặng Nghĩa D, sinh năm 1984.
Trú tại: Thôn Đông Trúc L, xã Phước Gi, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt;
5. Bà Võ Thị T, sinh năm 1976.
Trú tại: Thôn Tân L, xã Phước G, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt;
6. Ông Nguyễn Đăng D, sinh năm 1940.
Trú tại: Thôn Tân L, xã Phước G, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Với mục đích thu lợi bất chính, ngày 05/8/2025 và 06/8/2025, Đoàn Phú Hoan trực tiếp ghi bán đề cho người chơi tại nhà hoặc sử dụng điện thoại di động có số thuê bao 0797423417 để ghi bán đề cho người chơi, cụ thể:
Tịch đề miền trung ngày 06/8/2025 của Đoàn Phú H: Số tiền trên tịch đề 4.980.000 đồng, số tiền trúng đề 1.960.000. Tổng số tiền dùng để đánh bạc của Đoàn Phú H là 6.940.000 đồng, trong đó:
Bà Nguyễn Thị D mua số đề với số tiền trên tịch đề 468.000 đồng (tịch đề số (01), (02)), số tiền trúng đề 280.000 đồng, tổng số tiền dùng để đánh bạc của bà D là: 748.000 đồng. Sau khi trừ tiền hoa hồng bà D đã đưa cho H số tiền 353.000 đồng, H chưa thanh toán tiền trúng đề cho bà D.
Bà Phan Thị V mua số đề với số tiền trên tịch đề 42.000 đồng (tịch đề số 03), số tiền trúng đề 210.000 đồng, tổng số tiền dùng để đánh bạc của bà V là: 252.000 đồng. Sau khi trừ tiền hoa hồng bà V đã đưa cho H số tiền 353.000 đồng, Hoan chưa thanh toán tiền trúng đề cho bà V.
Ông Nguyễn Đăng C mua số đề với số tiền trên tịch đề 330.000 đồng (tịch đề số 04), ông C không trúng đề, tổng số tiền dùng để đánh bạc của ông C là: 330.000 đồng. Sau khi trừ tiền hoa hồng ông Chu đã đưa cho H số tiền 250.000 đồng.
Bà Võ Thị T mua số đề với số tiền trên tịch đề 530.000 đồng (tịch đề số 04), Bà Tám không trúng đề, tổng số tiền dùng để đánh bạc của bà T là: 530.000 đồng. Sau khi trừ tiền hoa H bà T đã đưa cho H số tiền 405.000 đồng.
Ông Nguyễn Đăng D mua số đề với số tiền trên tịch đề 36.000 đồng, số tiền trúng đề 70.000 đồng, tổng số tiền dùng để đánh bạc của ông D là: 106.000 đồng. Sau khi trừ tiền hoa H ông D đã đưa cho H số tiền 28.000 đồng, H chưa thanh toán tiền trúng đề cho ông D.
Ông Đặng Nghĩa D sử dụng số điện thoại 0702781072 nhắn tin đến số điện thoại 0797423417 do H sử dụng mua số đề với số tiền trên tịch 1.440.000 đồng, số tiền trúng đề 700.000 đồng, tổng số tiền dùng để đánh bạc của ông D là: 2.140.000 đồng, ông D chưa đưa số tiền đánh đề cho H, bị cáo H chưa thanh toán tiền trúng đề cho ông D.
Ngoài những người trên thì có những người đến mua số đề trực tiếp không rõ lai lịch trong tịch đề số (04) với số tiền trên tịch đề 2.134.000 đồng, số tiền trúng đề 700.000 đồng. Sau khi trừ tiền hoa Hồng những người này đã đưa cho H số tiền 28.000 đồng, H chưa thanh toán tiền trúng đề cho những người này. Tổng số tiền dùng để đánh bạc của những người này là: 2.834.000 đồng.
Tịch đề miền Bắc ngày 06/8/2025 của Đoàn Phú H: Số tiền trên tịch đề 802.000 đồng, tại thời điểm Công an phát hiện chưa có kết quả xổ số kiến thiết. Tổng số tiền dùng để đánh bạc của Đoàn Phú H là 802.000 đồng, cụ thể:
Bà Phan Thị V mua số đề với số tiền trên tịch đề, dùng để đánh bạc 46.000 đồng (tịch đề số 03), Sau khi trừ tiền hoa hồng bà Vân đã đưa cho H số tiền 38.000 đồng.
Ông Đặng Nghĩa D sử dụng số điện thoại 0702781072 nhắn tin đến số điện thoại 0797423417 do H sử dụng mua số đề với số tiền trên tịch đề, dùng để đánh bạc 756.000 đồng, ông Dân chưa đưa số tiền đánh đề cho H.
Tịch đề miền Bắc ngày 05/8/2025 của Đoàn Phú H: Số tiền trên tịch đề 945.000 đồng, số tiền trúng đề 1.200.000. Tổng số tiền dùng để đánh bạc của Đ Phú H là 2.145.000 đồng, cụ thể: Ông Đặng Nghĩa D sử dụng số điện thoại 0702781072 nhắn tin đến số điện thoại 0797423417 do H sử dụng mua số đề với số tiền trên tịch đề 945.000 đồng, số tiền trúng đề 1.200.000, ông D chưa đưa số tiền đánh đề cho H, H chưa thanh toán số tiền trúng cho ông D.
* Các kết luận giám định:
+Tại kết luận giám định số 1186/KL-KTHS, ngày 10/10/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi về kết luận giám định tài liệu chữ số và chữ viết, kết luận như sau:
1. Chữ viết, chữ số “lô 07 2 35 2” trên tờ giấy lịch kích thước (10x7,5)cm (ký hiệu A1); chữ số “35 34 36 09 91 78 87 88 89 90 92 93 77 44 22 55 99 11 00 33 07 3 3 3 07 35 87 3 3 3” trên tờ giấy lịch kích thước (14x10)cm (ký hiệu A2) với chữ viết, chữ số của Nguyễn Thị D trên các liệu mẫu so sánh (ký hiệu từ M1 đến M3) gửi giám định là do cùng một người viết ra.
2. Chữ viết, chữ số “3 05 19 61 lô 1 3”, “Bắc 05 lô 1 2 1 1 05 19 61 1 1 1" trên tờ giấy lịch kích thước (18x13)cm (ký hiệu A3) với chữ viết, chữ số của Phan Thị V trên các liệu mẫu so sánh (ký hiệu từ M4 đến M6) gửi giám định là do cùng một người viết ra.
3. Chữ viết, chữ số trên tờ giấy A4 (ký hiệu A4) với chữ viết, chữ số của Đoàn Phú H trên các liệu mẫu so sánh (ký hiệu từ M7 đến M11) gửi giám định là do cùng một người viết ra.
4. Chữ viết, chữ số trên mảnh giấy kích thước (9x6,5)cm (ký hiệu A5) với chữ viết, chữ số của Nguyễn Đăng C trên các liệu mẫu so sánh (ký hiệu từ M12 đến M14) gửi giám định là do cùng một người viết ra.
+ Tại kết luận giám định số 1015/KL-KTHS, ngày 21/10/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận giám định trên như sau:
1. Dữ liệu bên trong điện thoại di động hiệu Masstel, màu xanh dương, số IMEI 1: 359074037143668, số IMEI 2: 359074037347665, gắn 01 thẻ sim có dãy số "8401221233360241" và 01 thẻ sim có dãy số "8401240833290025", thời gian từ ngày 01/8/2025 đến ngày 06/8/2025, xác định: Trích xuất được 03 tin nhắn đi, 05 tin nhắn đến. Không khôi phục được dữ liệu theo nội dung yêu cầu giám định.
2. Dữ liệu bên trong điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, tên kiểu thiết bị: Galaxy A21s, số IMEI 1: 351662610561187, số IMEI 2: 352465210561188; gắn 01 thẻ sim có dãy số "8401210833394962", thời gian trong ngày 06/8/2025, xác định: Khôi phục, trích xuất được 02 tin nhắn đi theo nội dung yêu cầu giám định, không có tin nhắn đến.
Tại Cáo trạng số 08/CT-VKS-KV5 ngày 31/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Quảng Ngãi truy tố bị cáo Đoàn Phú Hoan về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố và đưa ra ý kiến: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đã tự nguyện nộp số tiền đánh bạc để nộp ngân sách nhà nước và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đoàn Phú H từ 6 đến 9 tháng tù.
- Buộc bị cáo Đoàn Phú H phải nộp số tiền 6.400.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước, nhưng được khấu trừ số trừ 2.529.000 đồng mà cơ quan điều tra đã thu giữ và số tiền 6.400.000 đồng bị cáo tự nguyện giao nộp. Do đó Hoàn trả lại cho bị cáo Hoan số tiền 2.529.000 đồng.
- Buộc bà Nguyễn Thị D phải nộp số tiền 115.000đ (một trăm mười lăm nghìn đồng), bà Phan Thị V phải nộp số tiền 18.000đ (mười tám nghìn đồng), ông Nguyễn Đăng C phải nộp số tiền 80.000đ (tám mươi nghìn đồng), bà Võ Thị T phải nộp số tiền 125.000đ (một trăm hai mươi lăm nghìn đồng), ông Nguyễn Đăng D phải nộp số tiền 8.000đ (tám nghìn đồng), ông Đặng Nghĩa D phải nộp số tiền 3.141.000đ (ba triệu, một trăm bốn mươi mốt nghìn đồng), là số tiền dùng để mua số lô số đề để nộp ngân sách nhà nước. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trên đã nộp đủ số tiền trên.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự 2015:
- Đối với 05 tờ tịch đề ghi các chữ số lô, số đề do bà Nguyễn Thị D, bà Phan Thị Vân và Đoàn Phú H, Nguyễn Đăng C ghi để mua, bán số lô, số đề vào ngày 06/8/2025 là tài liệu chứng cứ được đưa vào hồ sơ vụ án.
- 01 cây bút bi mực màu xanh và 01 cây bút bi mực màu đen đã được niêm phong. Quá trình điều tra xác định 02 cây bút bi trên là tài sản của Đoàn Phú H sử dụng làm công cụ, phương tiện phục vụ phạm tội, không còn giá trị nên đề nghị tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu xanh dương, số IMEI 1: 359074037143668, số IMEI 2: 359074037347665, gắn 01 thẻ sim có dãy số "8401221233360241" và 01 thẻ sim Mobifone có dãy số "8401240833290025"; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, tên kiểu thiết bị: Galaxy A21s, số IMEI 1: 351662610561187, số IMEI 2: 352465210561188; gắn 01 thẻ sim có dãy số "8401210833394962" Quá trình điều tra xác định 02 điện thoại trên là tài sản của Đoàn Phú H và Đặng Nghĩa D sử dụng làm công cụ, phương tiện phục vụ phạm tội, nên đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 (một) màn hình tivi hiệu UBC màu đen, 01 (một) thiết bị đầu Box hiệu FPT, 01 (một) thiết bị đầu thu phát sóng Wifi màu đen hiệu VNPT. Quá trình điều tra xác định các đồ vật trên là các thiết bị dùng trong sinh hoạt hằng ngày của gia đình Đoàn Phú H, không phải là công cụ, phương tiện phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh đã trả lại cho Đoàn Phú H.
Tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Phú H thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Phú H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Quảng Ngãi đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có cơ sở để xác định: Với mục đích thu lợi bất chính, ngày 06/8/2025, bị cáo Đoàn Phú H đã thực hiện hành vi bán số lô, số đề thắng thua bằng bằng tiền tổng cộng 02 lần, trong đó tại Đài Trung với số tiền dùng để đánh bạc 6.940.000 đồng, tại Đài bắc với số tiền dùng để đánh bạc 802.000 đồng. Ngoài ra, trước đó ngày 05/8/2025 bị cáo H đã thực hiện hành vi bán số lô, số đề tại Đài Bắc với số tiền dùng để đánh bạc 2.145.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Đoàn Phú H phạm tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Quảng Ngãi truy tố bị cáo Đoàn Phú H về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo Đoàn Phú H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi đánh bạc trái phép, bị cáo Đoàn Phú H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, bị cáo biết hành vi đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi của bị cáo cần phải xử mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không;
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền đánh bạc để nộp ngân sách nhà nước là các tình tiết giảm nhiệm trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Tuy nhiên, về nhân thân, ngày 13/6/2024 bị cáo H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nghĩa H (cũ) khởi tố về tội đánh bạc, vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo H vẫn tiếp tục có hành vi đánh bạc. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian đối với bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội, phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Biện pháp tư pháp: Tịch thu để nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 6.400.000 đồng mà bị cáo H dùng đánh bạc.
- Tạm giữ số số tiền 2.529.000 đồng thu giữ của bị cáo Đoàn Phú H có được do ghi bán số lô, số đề và số tiền 6.400.000 đồng mà bị cáo Đoàn Phú H đã tự nguyện nộp để đảm bảo thi hành án. Hoàn trả lại số tiền 2.529.000 đồng mà bị cáo Đoàn Phú Hoan đã nộp thừa cho bị cáo Đoàn Phú H.
Đối với bà Nguyễn Thị D, bà Phan Thị V, ông Nguyễn Đăng C, bà Võ Thị T, ông Nguyễn Đăng D, ông Đặng Nghĩa D: Qua điều tra, xác định các đối tượng trên chưa có tiền án, tiền sự về các tội đánh bạc quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc quy định tại Điều 322 Bộ luật Hình sự; đồng thời số tiền các đối tượng sử dụng trong từng lần đánh bạc là dưới 5.000.000 đồng. Do đó, hành vi của Nguyễn Thị D, Phan Thị V, Nguyễn Đăng C, Võ Thị T, Nguyễn Đăng D, Đặng Nghĩa D không đủ yếu tố cấu thành tội phạm Đánh bạc quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Ngãi đã chuyển hồ sơ đến Công an xã Phước Giang để xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thị D, Phan Thị V, Nguyễn Đăng C, Võ Thị T, Nguyễn Đăng D, Đặng Nghĩa D về hành vi “mua các số lô, số đề” quy định tại Khoản 1 Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, ngày 31/12/2021 của Chính phủ” là đúng quy định. Do đó, cần tịch thu số tiền dùng để đánh bạc của những người trên nộp ngân sách nhà nước, cụ thể: Tịch thu của bà Nguyễn Thị Diệm 115.000 đồng, bà Phan Thị V 18.000 đồng, ông Nguyễn Đăng C 80.000 đồng, bà Võ Thị T 125.000 đồng, ông Nguyễn Đăng D 8.000 đồng, ông Đặng Nghĩa D 3.141.000 đồng.
- Tạm giữ số tiền của các ông, bà đã tự nguyện nộp tại Thi hành án dân sự Quảng Ngãi gồm: Nguyễn Thị D 115.000 đồng, bà Phan Thị V 18.000 đồng, ông Nguyễn Đăng C 80.000 đồng, bà Võ Thị T125.000 đồng, ông Nguyễn Đăng D 8.000 đồng, ông Đặng Nghĩa D 3.141.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự 2015;
- 05 tờ tịch đề ghi các chữ số lô, số đề do bà Nguyễn Thị D, bà Phan Thị V và Đoàn Phú H, Nguyễn Đăng C ghi để mua, bán số lô, số đề vào ngày 06/8/2025 là tài liệu chứng cứ lưu vào hồ sơ vụ án.
- 01 cây bút bi mực màu xanh và 01 cây bút bi mực màu đen. Hai cây bút bi trên là tài sản của Đoàn Phú H sử dụng làm công cụ, phương tiện phục vụ phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu xanh dương, số IMEI 1: 359074037143668, số IMEI 2: 359074037347665, gắn 01 thẻ sim có dãy số "8401221233360241" và 01 thẻ sim Mobifone có dãy số "8401240833290025"; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, tên kiểu thiết bị: Galaxy A21s, số IMEI 1: 351662610561187, số IMEI 2: 352465210561188; gắn 01 thẻ sim có dãy số "8401210833394962". Hai điện thoại trên là tài sản của Đoàn Phú H và Đặng Nghĩa D sử dụng làm công cụ phục vụ việc đánh bạc nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, phần hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.
Đối với yêu cầu xin được hưởng án treo của bị cáo Đoàn Phú H, Hội đồng xét xử xét thấy, ngày 13/6/2024 bị cáo Hoan bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nghĩa H (cũ) khởi tố về tội đánh bạc, vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo H vẫn tiếp tục có hành vi đánh bạc. Do đó, yêu cầu Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng án treo là chưa phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội nên không được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Đoàn phú H phải chịu án phí 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Phú H phạm tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt bị cáo Đoàn Phú H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Buộc bị cáo Đoàn Phú H phải nộp số tiền thu lợi bất chính 6.400.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.
- Buộc bà Nguyễn Thị D phải nộp số tiền 115.000đ (một trăm mười lăm nghìn đồng), bà Phan Thị V phải nộp số tiền 18.000đ (mười tám nghìn đồng), ông Nguyễn Đăng C phải nộp số tiền 80.000đ (tám mươi nghìn đồng), bà Võ Thị T phải nộp số tiền 125.000đ (một trăm hai mươi lăm nghìn đồng), ông Nguyễn Đăng D phải nộp số tiền 8.000đ (tám nghìn đồng), ông Đặng Nghĩa D phải nộp số tiền 3.141.000đ (ba triệu, một trăm bốn mươi mốt nghìn đồng), là số tiền dùng mua số đề để nộp ngân sách nhà nước.
2. Xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự 2015;
- Tịch thu tiêu hủy 01 cây bút bi mực màu xanh và 01 cây bút bi mực màu đen, đã được niêm phong.
- Tịch thu để nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu xanh dương, số IMEI 1: 359074037143668, số IMEI 2: 359074037347665, gắn 01 thẻ sim có dãy số "8401221233360241" và 01 thẻ sim Mobifone có dãy số "8401240833290025" của Đoàn Phú Hoan;
- Tịch thu để nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, tên kiểu thiết bị: Galaxy A21s, số IMEI 1: 351662610561187, số IMEI 2: 352465210561188; gắn 01 thẻ sim có dãy số "8401210833394962" của ông Đặng Nghĩa D.
Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh Quảng Ngãi và Phòng Thi hành hành dân sự khu vực 5-Quảng Ngãi ngày 08 tháng 01 năm 2026.
- Tiếp tục tạm giữ số số tiền 2.529.000 đồng thu giữ của bị cáo Đoàn Phú H theo giấy Uỷ nghiệm chi ngày 07/01/2026 của Công an xã Phước G đã nộp vào tài khoản của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi số 3949.0.1054192.00000 tại Kho bạc Nhà nước khu vực XV- Phòng nghiệp vụ 2 và số tiền 6.400.000 đồng mà bị cáo Đoàn Phú H đã tự nguyện nộp để đảm bảo thi hành án theo biên lai thu tiền số 0000151 ngày 26/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi.
Hoàn trả lại số tiền 2.529.000 đồng cho bị cáo Đoàn Phú H đã nộp thừa theo biên lai thu tiền số 0000151 ngày 26/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi.
- Tiếp tục tạm giữ số tiền của bà Nguyễn Thị D 115.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000177, ngày 30/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi; bà Phan Thị V 18.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000176, ngày 30/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi; ông Nguyễn Đăng C 80.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000133, ngày 26/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi; bà Võ Thị T 125.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000179, ngày 30/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi; ông Nguyễn Đăng D 8.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000134, ngày 26/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi; ông Đặng Nghĩa D 3.141.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000152, ngày 28/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi, để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Đoàn Phú Hoan phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Bị cáo Đoàn Phú Hoan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND khu vực 5 - Quảng Ngãi; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Ngãi; - Phòng HSNV Công an tỉnh Quảng Ngãi; - CQTHAHS Công an tỉnh Quảng Ngãi; - THADS tỉnh Quảng Ngãi; - Bị cáo; - Người có QLNV liên quan; - Lưu hồ sơ, lưu án văn. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa Phạm Văn Rô |