- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A C - PT Sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2026/HS-ST Ngày: 08-01-2026. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Tiến Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Công Thắng.
Ông Vũ Đình Trường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Mai Na – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Đinh Mạnh Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 55/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Giàng A C, sinh ngày 19 tháng 4 năm 1999 tại xã Púng Luông, tỉnh Lào Cai. Nơi ở hiện nay: Thôn P, xã P, tỉnh Lào Cai; CCCD số: 015*******96; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Mông; nghề nghiệp: Nông dân; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Giàng A D, sinh năm 1979 và bà Vàng Thị D, sinh năm 1981; Vợ: Sùng Thị S, sinh năm 1998; Con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2019, con nhỏ nhất sinh năm 2025.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 25/5/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái (cũ) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 18 tháng.
Nhân thân:
Ngày 30/9/2021 bị Chủ tịch UBND xã Nậm Khắt, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái (cũ) quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường thị trấn với thời hạn 03 tháng.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/10/2025, tạm giam ngày 17/10/2025 hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo:
Bà Nguyễn Thị Hoa- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến: Ông Thào Gà X, sinh năm 1969. Trú tại: Thôn N, xã P, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 07/10/2025 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Giàng A C đã đi đến khu vực Quốc lộ 32 thuộc thôn Ngã Ba Kim, xã Púng Luông, tỉnh Lào Cai để tìm mua ma túy (Heroine). Tại đây C đã gặp một người phụ nữ không quen biết, khoảng 50 tuổi, mặc trang phục dân tộc Mông. Tại đây C hỏi “Có hàng bán không?” cả hai ngầm hiểu ý là có ma túy bán không, rồi người phụ nữ hỏi C “mua thế nào? và nói “Còn ba con, mỗi con năm mươi nghìn”. Sau đó C đưa cho người phụ nữ 100.000đ, người này đưa cho C 02 gói nilon được hàn kín một đầu, C biết đó là ma túy, C không nhớ màu sắc của các gói nilon trên. Sau đó C cầm lấy và mang về nhà tại thôn Páo Khắt, xã Púng Luông. Đến 18 giờ cùng ngày, tại khu vực bếp, C đem số ma túy trên mang ra sử dụng. Khi mở các gói nilon ra, C thấy bên trong có chứa chất bột nén màu trắng và màu hồng, C biết đó là ma túy loại Heroine và ma túy tổng hợp (loại hồng phiến), sau đó C đã sử dụng lần lượt từng gói ma túy bằng cách cho chất bột nén màu trắng và chất bột nén màu hồng lên trên mảnh giấy bạc đã chuẩn bị trước rồi dùng bật lửa ga đốt phía dưới mảnh giấy bạc, khi khói bốc lên thì dùng mũi và miệng hít trực tiếp ma túy vào trong cơ thể. Số ma túy mua được C đã sử dụng hết. Mảnh giấy bạc, vỏ gói ma túy và bật lửa sau khi sử dụng ma túy xong C đã vứt vào bếp lửa và đã cháy hết. Quá trình mua và sử dụng ma túy không có ai biết, nhìn thấy và tham gia cùng. Số tiền C sử dụng để mua ma túy do đi hái táo thuê mà có.
Do Giàng A C là người đã chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số: 38/QĐ-TA ngày 25/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái (cũ), đến ngày 18/7/2024 chấp hành xong và đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú từ ngày 20/7/2024 đến ngày 20/7/2026 theo Quyết định số: 136/QĐ-UBND ngày 20/7/2024 của UBND xã Nặm Khắt, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái (cũ). Ngày 08/10/2025 Công an xã Púng Luông tiến hành gọi, hỏi, kiểm tra, giáo dục đối với C, quá trình làm việc thấy C có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành thu mẫu nước tiểu của C để giám định.
Tại bản Kết luận giám định số: 2574/KL-KTHS ngày 13/10/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận: “Trong mẫu nước tiểu thu giữ của Giàng A C gửi đến giám định có chất ma túy, loại Morphine và Methamphetamine. Morphine là sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong cơ thể người”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về nội dung bản Kết luận giám định nêu trên.
Bản Cáo trạng số: 49/CT-VKS-KV4 ngày 18 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai, truy tố Giàng A C về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không khiếu nại Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Tại phiên toà:
+ Đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Giàng A C phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, xử phạt bị cáo Giàng A C từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù; đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
+ Bị cáo Giàng A C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã tuy tố.
- Người bào chữa cho bị cáo C cơ bản nhất trí với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và các vấn đề khác trong vụ án. Về mức hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo 02 năm tù. Miễn án phí hình sự cho bị cáo.
+ Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất và xin miễn án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của người chứng kiến (Thào Gà X): Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của người chứng kiến đã có đầy đủ trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt của người chứng kiến không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến (Thào Gà X) là phù hợp theo quy định của pháp luật.
. Về tội danh: Lời khai tại phiên toà của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với Biên bản vụ việc, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận:
Giàng A C là người đã chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số: 38/QĐ-TA ngày 25/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái (cũ), đến ngày 18/7/2024 chấp hành xong và đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú từ ngày 20/7/2024 đến ngày 20/7/2026 theo Quyết định số: 136/QĐ-UBND ngày 20/7/2024 của UBND xã Nặm Khắt, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái (cũ), ngày 07/10/2025 Giàng A C tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy tại khu vực bếp của gia đình thuộc Thôn Páo Khắt, xã Púng Luông, tỉnh Lào Cai. Hành vi của bị cáo Giàng A C đã phạm vào tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.
Do đó, Cáo trạng truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo Giàng A C là chính xác, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Xét hành vi của bị cáo Giàng A C: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện.
Xét nhân thân của bị cáo: Bị cáo chưa có tiền án, có 01 tiền sự chưa được xóa và 01 tiền sự đã được xóa (đã được nêu ở phần lý lịch). Bị cáo là người có sức khỏe, có khả năng điều khiển mọi hành vi hoạt động của bản thân, nhận thức được việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng thiếu tu dưỡng rèn luyện, muốn thỏa mãn nhu cầu của bản thân đã cố ý thực hiện tội phạm.
+ Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
+ Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có 03 con đều dưới 15 tuổi, gia đình thuộc hộ cận nghèo đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
. Từ những nhận xét, đánh giá về tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân bị cáo và căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định tương xứng với mức độ nguy hiểm mà bị cáo gây ra mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời để răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.
. Các vấn đề khác: Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, mảnh giấy bạc, vỏ gói ma túy và bật lửa sau khi sử dụng ma túy xong C đã vứt vào bếp lửa và đã cháy hết nên Cơ quan điều tra không thu giữ được nên không đặt ra vấn đề xử lý.
Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho C, C khai không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xử lý là phù hợp.
. Về án phí: Do bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ cận nghèo nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Giàng A C phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Giàng A C 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 08/10/2025.
3. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Giàng A C được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
" Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7A, 7B và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự ".
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND khu vực 4 - Lào Cai; - Cơ quan CSĐT (PC 04), CA tỉnh Lào Cai; - Phòng HS Nghiệp vụ, CA tỉnh Lào Cai. - Phòng THADS khu vực 4, tỉnh Lào Cai; - Trại tạm giam số 2, CA tỉnh Lào Cai; - Thi hành án hình sự; - UBND xã Púng luông (TB); - Bị cáo; người bào chữa. - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Tiến Phúc |