vanban.org

Bản án 04/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58, Điều 17 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Thị Hồng Q; điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58, Điều 17 của Bộ luật Hình sự Đặng Thế M.

Tuyên bố các bị cáo Vũ Thị Hồng Q, Đặng Thế M phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Vũ Thị Hồng Q 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thị Hồng Quyên - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58, Điều 17 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Thị Hồng Q; điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58, Điều 17 của Bộ luật Hình sự Đặng Thế M.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2026/HS-ST
Ngày 14-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu PHhương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Văn Khang

Bà Đào Thị Hảo

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Diệu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 117/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:142/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 02/TB-TA ngày 05 tháng 01 năm 2026 đối với các bị cáo:

1. Vũ Thị Hồng Q, sinh ngày 01 tháng 12 năm 1976 tại H. Nơi cư trú: Số 10/183 H, phường H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn Q (đã chết) và bà: Lê Thị M; chưa có chồng con; Tiền án: Bản án số 08 ngày 16/01/2004 của Toà án nhân dân quận L, Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Chấp hình xong hình phạt ngày 28/4/2005, chưa nộp tiền án phí và tiền phạt (chưa xóa án tích); tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 14/4/2025 đến ngày 18/4/2025 chuyển tạm giam; có mặt.

2. Đặng Thế M, sinh ngày 10 tháng 02 năm 1979 tại Hải Phòng. ĐKHKTT: số 42/2A B, phường H, thành phố Hải Phòng; nơi ở: số 10/183 H, phường H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Văn M và bà: Mai Thị T; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 15/4/2025 đến ngày 18/4/2025 chuyển tạm giam; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 14/4/2025 tại khu vực phía sau nhà số 76 Hùng Duệ Vương, Thượng Lý, H, Hải Phòng, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Hải Phòng phối hợp với Công an phường Thượng Lý kiểm tra, bắt quả tang Vũ Thị Hồng Q cất giấu trái phép chất các chất nghi là ma túy. Tổ công tác đưa Q về trụ sở lập biên bản quả tang cùng vật chứng thu giữ gồm:

- Thu tại túi áo phía trước bên trái của Q: 01 bọc giấy màu trắng, trong có 03 gói giấy đều chứa chất bột màu trắng dạng cục (mẫu QT01).

- Thu của Q 01 túi đeo chéo màu đen, bên trong có:

+ 01 bọc giấy màu trắng, trong có 02 túi nilon, kích thước mỗi túi khoảng 2,5x3cm, bên trong đều chứa tinh thể màu trắng (mẫu QT02).

+ 01 bọc giấy màu trắng, trong có 01 gói giấy chứa chất bột màu trắng (mẫu QT03).

+ 01 bao thuốc lá, trong có 01 túi nilon kích thước khoảng 4x6cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng (mẫu QT04).

+ 07 vỏ túi nilon, kích thước mỗi túi khoảng 2,5x3cm;

- 01 xe đạp điện màu trắng (đã qua sử dụng);

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO (đã qua sử dụng);

- Số tiền 2.300.000 đồng (bút lục số 10, 11).

Tại cơ quan điều tra Vũ Thị Hồng Q khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy, ngày 14/4/2025 Q đến khu vực gầm cầu Nam Cầu Bính, phường H, Hải Phòng, mua của người phụ nữ tên Trúc (chưa xác định được nhân thân lai lịch) 300.000 đồng Heroine, mang về nhà, chia thành 04 gói giấy nhỏ để bán kiếm lời. Q cho 03 gói Heroine vào túi áo ngực, cho 01 gói còn lại vào túi đeo chéo. Đến 10 giờ sáng cùng ngày, có người phụ nữ tên Hoa (không rõ địa chỉ cụ thể) gọi điện hỏi mua 02 gam ma túy “đá”, hai bên thống nhất giá 1.800.000 đồng. Q đi xe đạp đến đường Hàm Nghi, phường H mua của người đàn ông tên Thắng (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) 3.000.000 đồng được 05 gam ma túy “đá”. Q cầm ma túy về nhà, chia vào 03 túi nilon, gồm 02 túi kích thước khoảng 2,5x3cm và 01 túi kích thước khoảng 4x6cm. Q giữ lại 01 túi kích thước khoảng 4x6cm, dự định khi có khách hỏi mua sẽ tiếp tục chia lẻ ra để bán. Còn 02 túi kích thước 2,5x3cm, Q giấu vào túi đeo chéo mang để đi bán cho Hoa, đến khu vực phía sau nhà số 76 Hùng Duệ Vương, phường H, Hải Phòng thì bị bắt quả tang như nội dung trên.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Thị Hồng Q tại số 10/183 H, Sở Dầu, H, Hải Phòng (có mặt Đặng Thế M), cơ quan Công an thu giữ tại bàn trang điểm phòng ngủ tầng 2: 01 túi nilon màu trắng có khóa mép, kích thước khoảng 4x6cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng (mẫu KX01).

Tiến hành xét nghiệm nhanh trong cơ thể của Vũ Thị Hồng Q và Đặng Thế M cho kết quả: dương tính với các chất ma túy Heroine và Methamphetamine.

Tại cơ quan điều tra Đặng Thế M khai: Q và M có quan hệ tình cảm và sống chung như vợ chồng tại số 10/183 H, phường H, Hải Phòng. M biết Q mua bán ma túy nhưng không biết cụ thể việc Q mua của ai, chia nhỏ, cất giấu ở đâu để bán, liên hệ với khách và hưởng lãi cụ thể thế nào. Chỉ khi nào Q bảo M giao ma túy, nhận tiền hoặc kiểm tra việc khách mua ma túy chuyển vào tài khoản của M rồi rút tiền mặt đưa cho Q thì M mới thực hiện. Khi Q thỏa thuận xong, cho thông tin để các đối tượng chuyển tiền mua ma túy đến tài khoản số 0945404469, mang tên Đặng Thế M tại Ngân hàng MB. Sau khi Q yêu cầu kiểm tra tài khoản, M thông báo cho Q biết khách mua ma túy đã chuyển tiền thì Q giao ma túy, sau đó M đi rút tiền mặt đưa cho Q. Ngoài ra, M còn nhiều lần trực tiếp giao ma túy cho khách giúp Q, cụ thể:

Ngày 26/3/2025, Q đang làm việc nhà thì có 01 người nam giới sử dụng số điện thoại: 0898.222.723 hỏi mua 200.000 đồng ma tuý “đá”. Q đưa cho M 01 gói ma tuý để giao cho khách trên tại trước cửa nhà. M nhận 200.000 đồng tiền mặt và đưa lại cho Q. Giao dịch xong người này nhắn tin cho Q: “em đưa cho anh rồi nhé”.

Ngày 11/4/2025, Vì Văn Hồng, sinh năm: 1986, nơi cư trú: Đội 11, xã Thanh Nưa, tỉnh Điện Biên đến nhà Q hỏi mua 200.000 đồng Heroine. Sau đó, Hoàng Sâm, sinh năm: 1982, nơi cư trú: Số 8B59 Trại Chuối, phường H, Hải Phòng đến nhà Q hỏi mua 300.000 đồng Heroine. Ngày 12/4/2025 Lê Xuân Hưng, sinh năm: 2000, nơi cư trú: Thôn Xuân Tư, xã Gia Phú, tỉnh Lào Cai đến nhà Q hỏi mua 200.000 đồng Heroine. Do Hồng, Sâm và Hưng đều không có tiền mặt nên Q yêu cầu những người này chuyển khoản vào tài khoản của M. Khi M thông báo đã nhận được tiền, Q mới giao ma túy. Sau đó M rút tiền mặt, đưa cho Q.

Ngày 13/4/2025, bạn xã hội là Hoa (Q không biết rõ căn cước, lai lịch) đến nhà Q hỏi mua nợ 300.000 đồng tiền ma tuý “đá”. Q đồng ý, nhờ M giao cho Hoa 01 gói ma tuý “đá” tại cửa nhà, không thu tiền.

Tại Bản Kết luận giám định số 237/KL-KTHS ngày 17/4/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận:

“- Chất bột màu trắng của mẫu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,19 gam, loại: Heroine(Heroin).

- Tinh thể màu trắng của mẫu QT02 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 1,11 gam, loại: Methamphetamine.

- Chất bột màu trắng của mẫu QT03 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,07 gam, loại: Heroine(Heroin).

- Tinh thể màu trắng của mẫu QT04 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 3,57 gam, loại: Methamphetamine.

- Tinh thể màu trắng của mẫu KX01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 3,07 gam, loại: Methamphetamine.

Tại Bản Kết luận giám định số 2399 ngày 03/9/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng thể hiện: Trích xuất thông tin trong điện thoại thu giữ của Q nội dung tin nhắn Zalo và lịch sử cuộc gọi, phù hợp với nội dung nêu trên.

Kết quả sao kê tài khoản số 0945404469, mang tên Đặng Thế M tại Ngân hàng MB có lịch sử giao dịch phù hợp nội dung trên.

Vật chứng của vụ án:

Chuyển Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 - Hải Phòng:

+ 01 (một) bì giấy dán kín có dấu niêm phong số 237MT/PC09 ngày 17/4/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng chứa các mẫu ma túy còn lại cùng toàn bộ vỏ gói sau giám định.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO (đã qua sử dụng) của Vũ Thị Hồng Q. 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu đen (đã qua sử dụng) của Đặng Thế M.

+ Số tiền 2.300.000 đồng của Vũ Thị Hồng Q.

Đối với 01 xe đạp điện màu trắng thu giữ của Q, qua xác M, xác định thuộc sở hữu hợp pháp của bà Lê Thị Mái, sinh năm: 1955, địa chỉ: số 10/183 đường H, H, Hải Phòng (mẹ đẻ của Q). Khi mượn xe, Q không nói cho bà Mái biết mục đích đi mua bán ma túy. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe đạp trên cho bà Lê Thị Mái.

Tại bản Cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 28 tháng 11 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 Hải Phòng đã truy tố bị cáo Vũ Thị Hồng Q tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Đặng Thế M về tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Vũ Thị Hồng Q, Đặng Thế M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58, Điều 17 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Thị Hồng Q mức án từ 11 đến 12 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58, Điều 17 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Thế M mức án từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm 06 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Đặng Thế M; buộc bị cáo Vũ Thị Hồng Q, phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) bì giấy dán kín có dấu niêm phong số 237MT/PC09 ngày 17/4/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng chứa các mẫu ma túy còn lại cùng toàn bộ vỏ gói sau giám định.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO (đã qua sử dụng) của Vũ Thị Hồng Q. 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu đen (đã qua sử dụng) của Đặng Thế M.

- Buộc bị cáo Vũ Thị Hồng Q phải nộp lại số tiền 900.000 đồng tiền bán ma tuý. Trả lại bị cáo Q 1.400.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Về án phí: Các bị cáo Vũ Thị Hồng Q, Đặng Thế M mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Việc khởi tố, điều tra, truy tố và ban hành quyết định khởi tố, truy tố; áp dụng biện pháp ngăn chặn; tống đạt các văn bản tố tụng; lấy lời khai của các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; thời hạn điều tra, truy tố trong tố tụng hình sự đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với các bị cáo:

Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, lời khai của người làm chứng có trong hồ sơ vụ án và vật chứng thu giữ có đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ ngày 26/3/2025 đến ngày 13/4/2025, tại nhà số 10/183 H, phường H, Hải Phòng, Vũ Thị Hồng Q trực tiếp mua ma tuý, chia nhỏ và liên hệ với khách mua ma tuý; Đặng Thế M giao ma túy, nhận tiền hoặc kiểm tra việc khách mua ma túy chuyển vào tài khoản của M rồi rút tiền mặt đưa cho Q, cụ thể: ngày 26/3/2025, bán cho người nam giới sử dụng số điện thoại: 0898.222.723 200.000 đồng Methamphetamine; ngày 11/4/2025, lần lượt bán cho Vì Văn Hồng 200.000 đồng Heroine, bán cho Hoàng Sâm 300.000 đồng Heroine; ngày 11/4/2025, bán cho Lê Xuân Hưng 200.000 đồng Heroine; ngày 13/4/2025, bán cho người phụ nữ tên Hoa 300.000 đồng Methamphetamine.

Ngoài ra, khoảng 12 giờ 30 phút ngày 14/4/2025, Vũ Thị Hồng Q còn cất giấu trái phép ma tuý với mục đích để bán kiếm lời thì bị phát hiện bắt quả tang. Theo Kết luận giám định số 237/KL-KTHS ngày 17/4/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, tổng số ma tuý bị cáo Q cất giữ có 7,75 gam Methamphetamine (4,68 gam trong người và 3,07 gam tại nơi ở) cùng 0,26 gam Heroine.

Như vậy hành vi của bị cáo Vũ Thị Hồng Q đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Đặng Thế M đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Việc truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về sử dụng chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe của bản thân và của người khác, gây hoang mang cho nhiều gia đình, gây mất trật tự an toàn xã hội. Vì vậy thấy cần thiết phải xử nghiêm, buộc các bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục.

- Xét vai trò của các bị cáo:

Trong vụ án này bị cáo Vũ Thị Hồng Q là người trực tiếp mua ma tuý, cất giữ và chia nhỏ ma tuý bán kiếm lời cho các đối tượng mua ma tuý. Bị cáo Đặng Thế M giao ma tuý và nhận tiền chuyển khoản rồi đưa lại cho Q. Các bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng:

Bị cáo Đặng Thế M không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Vũ Thị Hồng Q có 01 tiền án chưa xóa án tích nên chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ.

Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo Vũ Thị Hồng Q, Đặng Thế M có thái độ khai báo thành khẩn là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy cần thiết phải buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, phạt tiền bị cáo Vũ Thị Hồng Q 30.000.000 đồng; đối với bị cáo Đặng Thế M giúp bị cáo Q giao và nhận tiền bán ma tuý nhưng không hưởng lợi từ việc bán ma tuý vì vậy không buộc bị cáo M phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

- Về vật chứng của vụ án: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) bì giấy dán kín có dấu niêm phong số 237MT/PC09 ngày 17/4/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng chứa các mẫu ma túy còn lại cùng toàn bộ vỏ gói sau giám định.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO (đã qua sử dụng) của Vũ Thị Hồng Q. 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu đen (đã qua sử dụng) của Đặng Thế M.

Buộc bị cáo Vũ Thị Hồng Q phải nộp lại số tiền 900.000 đồng tiền bán ma tuý. Trả lại bị cáo 1.400.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0001883 của Thi hành án dân sự Thành phố Hải Phòng nhưng tạm giữ để đảm thi hành án.

- Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Vũ Thị Hồng Q, Đặng Thế M, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

- Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông tên Thắng và người phụ nữ tên Trúc đã bán ma túy cho Vũ Thị Hồng Q và người phụ nữ tên Hoa hỏi mua ma túy của Q, Q khai không biết nhân thân, lai lịch cụ thể các đối tượng trên nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác M điều tra khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với người sử dụng số điện thoại 0898.222.723, qua xác M tại nhà mạng Mobiphone, đây là số điện thoại ẩn không có dữ liệu tra cứu nên Cơ quan điều tra không đủ thông tin xác M đối với số điện thoại trên. Đối với các đối tượng mua ma túy của Q gồm: Vì Văn Hồng; Hoàng Sâm, Lê Xuân Hưng, qua xác M hiện tại đang vắng mặt tại địa phương, đi đâu làm gì không rõ. Viện kiểm sát đã yêu cầu Cơ quan điều tra tách hành vi của các đối tượng trên để tiếp tục làm rõ xử lý sau.

Đối với hành vi Q và M sử dụng trái phép chất ma túy, dương tính với với ma tuý Heroine và Methamphetamine: Q khai tự sử dụng một mình tại nhà số 10/183 đường H, phường H, thành phố Hải Phòng ngày 11/4/2025; M khai tự sử dụng một mình tại nghĩa trang An Trì, H, Hải Phòng ngày 13/4/2025. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Vũ Thị Hồng Q và Đặng Thế M về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, vi phạm khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 Thủ tướng Chính phủ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm b, p khoản 2 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58, Điều 17 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Thị Hồng Q; điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58, Điều 17 của Bộ luật Hình sự Đặng Thế M.

Tuyên bố các bị cáo Vũ Thị Hồng Q, Đặng Thế M phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

+ Xử phạt bị cáo Vũ Thị Hồng Q 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14 tháng 4 năm 2025.

+ Xử phạt bị cáo Đặng Thế M 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15 tháng 4 năm 2025.

- Hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

+ Phạt tiền bị cáo Vũ Thị Hồng Q 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng;

- Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

+Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) bì giấy dán kín có dấu niêm phong số 237MT/PC09 ngày 17/4/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng chứa các mẫu ma túy còn lại cùng toàn bộ vỏ gói sau giám định.

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng thu giữ của Vũ Thị Hồng Q. 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu đen đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng thu giữ của Đặng Thế M.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/12/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3- Hải Phòng).

+ Buộc bị cáo Vũ Thị Hồng Q phải nộp lại 900.000 đồng tiền bán ma tuý. Trả lại bị cáo 1.400.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0001883 của Thi hành án dân sự Thành phố Hải Phòng nhưng tạm giữ để đảm thi hành án.

- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Vũ Thị Hồng Q, Đặng Thế M mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ