- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn V - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2026/HS - ST Ngày 26 - 01 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Cương
Ông Nguyễn Trung Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 01 năm 2026, tại điểm cầu Trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Nghệ An và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An; Tòa án nhân dân khu vực 2 - Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 63/2025/TLST - HS ngày 22 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2026/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn V; tên gọi khác: Không; sinh ngày 05 tháng 9 năm 1989, tại tỉnh Nghệ An; Căn cước công dân số 040089013363; nơi cư trú: xóm 7 Nghi K, xã Văn K, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1969; vợ: Phan Thị O và có 01 con sinh năm 2024: Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2010, bị Công an huyện Nghi Lộc (cũ) phạt vi phạm hành chính 200.000đồng về hành vi “cố ý gây thương tích” (đã nộp tiền phạt ngày 31/8/2010). Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12 tháng 10 năm 2025 đến nay tại Phân trại Vinh Phú
- Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dung ma túy nên khoảng 21 giờ 30 phút ngày 12/10/2025, Nguyễn Văn V điều khiển xe mô tô BKS 37K1 - 73.39 đi đến khu vực cầu Nhân Hòa thuộc xóm Nam Nhân Hòa, xã Trung Lộc, tỉnh Nghệ An thì gặp một người đàn ông không quen biết đứng bên đường. Viện đi lại gần và hỏi “có hồng phiến không để em triệu” ý Viện là hỏi người đán ông đó có ma túy không bán cho Viện 1.000.000 đồng. Người đàn ông trả lời “có” thì Viện đưa cho người này số tiền 1.000.000 đồng. Người đàn ông cầm tiền và đi đâu đó một lúc khoảng 10 phút sau quay lại rồi đưa cho Viện 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Canoy, bên trong có chứa 07 viên ma túy màu hồng được gói kín bằng băng dính keo màu đen. Sau khi mua được ma túy, Viện bỏ vào bao túi quần rồi đi về nhà. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, khi Viện đi về khu vực xóm Nghi Đồng 6, xã Thần Lĩnh, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác Công an xã Thần Lĩnh, tỉnh Nghệ An phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bò bên trái mà Viện đang mặc 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Canony có chứa 07 viên nén hình tròn dẹt, màu hồng nghi là ma túy, thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sỉius, sơn màu trắng. Quá trình bắt giữ Cơ quan điều tra đã tiến hành tets nhanh chất ma túy đối với Nguyễn Văn V. Kết quả Viện dương tính với chất ma túy.
Tại kết luận giám định số 506/KL – KTHS (Đ2 - MT) ngày 17/10/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu viên nén hình tròn dẹt, màu hồng thu giữ của Nguyễn Văn V gửi đên giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Số viên nén hình tròn dẹt, màu hồng thu giữ của Nguyễn Văn V có khối lượng là 0,625g (không phẩy sáu trăm hai lăm gam)”
Bản Cáo trạng số: 36/CT - VKS - KV2 ngày 19 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Nghệ An truy tố bị cáo Nguyễn Văn V, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025);
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V từ 36 tháng tù đến 39 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12 tháng 10 năm 2025.
Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niên phong bằng phong bì được niêm phong theo quy định, bên trong gói niêm phong có 0,43 gam chất ma túy (Methamphetamine) sau khi đã lấy mẫu giám định;
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 37K1 - 703.39, xe cũ, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn V.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Văn V, kết quả điều tra không xác định được nhân thân, lý lịch cụ thể nên không có căn cứ xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Nguyễn Văn V, kết quả điều tra xác định không thuộc trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025) nên không xem xét, xử lý.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn V không có ý kiến tranh luận gì hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Bản cáo trạng đã truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng bị cáo thể hiện rõ sự ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công tỉnh Nghệ An; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và khung hình phạt: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 12/10/2025 tại khu vực xóm Nghi Đồng 6, xã Thần Lĩnh, tỉnh Nghệ An. Bị cáo Nguyễn Văn V có hành vi tàng trữ bất hợp pháp trong túi quần bò bên trái mà bị cáo đang mặc 0,625 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Nghệ An truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về tính chất mức độ của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy mà còn là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân mà cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2010 bị Công an huyện Nghi Lộc (cũ), tỉnh Nghệ An phạt hành chính 200.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích” nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời đáp ứng phong trào đấu tranh phòng chống tội phạm đặc biệt là tội phạm về ma túy ngày càng có xu hướng gia tăng. Tuy nhiên, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Ngoài ra, bị cáo có ông nội là Nguyễn Văn Lai là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải xét xử nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) gói niêm phong bằng phòng bì thư, các mép của phong bì được dán kín, trên mép dán có chữ ký của Nguyễn Văn V, những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Nghệ An. Theo tài liệu phản ánh bên trong gói niêm phong có 0,43 gam viên nén hình tròn, dẹt màu hồng, giấy gói ban đầu cùng vỏ niêm phong cũ là vật chứng nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu trắng, BKS 37K1
- 703.39, số khung RLCS5C6K0FY203905, số máy 5C6K203913, xe đã qua sử dụng, đã cũ rĩ, không kiểm tra chất lượng bên trong, không rõ tốt, xấu thu giữ của Nguyễn Văn V là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Văn V, kết quả điều tra không xác định được nhân thân, lý lịch cụ thể nên không có căn cứ xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Nguyễn Văn V kết quả điều tra xác định không thuộc trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025) nên không xem xét, xử lý.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 03 (Ba) năm tù, về tội "Tàng trái phép chất ma túy". Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12 tháng 10 năm 2025.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong bằng phòng bì thư, các mép của phong bì được dán kín, trên mép dán có chữ ký của Nguyễn Văn V, những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Nghệ An. Theo tài liệu phản ánh bên trong gói niêm phong có 0,43 gam viên nén hình tròn, dẹt màu hồng, giấy gói ban đầu cùng vỏ niêm phong cũ.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu trắng, BKS 37K1 - 703.39, số khung RLCS5C6K0FY203905, số máy 5C6K203913, xe đã qua sử dụng, đã cũ rĩ, không kiểm tra chất lượng bên trong, không rõ tốt, xấu (Đặc điểm, tình trạng các vật chứng đúng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26 tháng 01 năm 2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra
- Công an tỉnh Nghệ An và Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 2 - Nghệ An).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Nghệ An;
[ơ
- VKSND tỉnh Nghệ An;
- VKSND khu vực 2;
- Phòng THADS khu vực 2;
- CQĐT CA tỉnh Nghệ An;
- Trại TG CA tỉnh Nghệ An;
- Phân trại Vinh Phú;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Đặng Thị Phương
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Nghệ An; [ơ - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND khu vực 2; - Phòng THADS khu vực 2; - CQĐT CA tỉnh Nghệ An; - Trại TG CA tỉnh Nghệ An; - Phân trại Vinh Phú; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Phương |