vanban.org

Bản án 04/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh, hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Khà A C phạm tội Sử dụng trái phép chất ma tuý. Xử phạt bị cáo Khà A C 26 (hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giam 11/10/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Khà A C - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh, hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 256a Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 – PHÚ THỌ
Bản án số: 04/2026/HS-ST
Ngày: 26-01-2026.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Tiến Đạt và ông Lường Khắc Tiệp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Cao – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16

- Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Bùi Bảo Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 04/2026/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Khà A C, sinh ngày 13 tháng 01 năm 1988, tại: Xã P, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Xóm T, xã P, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Khà A G (đã chết) và bà Sùng Y Đ, sinh năm 1967; bị cáo có vợ là Sùng Y Sông, sinh năm 1986 và có 04 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2021.

Tiền án: Không có.

Tiền sự: Ngày 18/5/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình áp dụng biệp pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 20 tháng theo Quyết định số 11/2021/QĐ-TA (chấp hành xong ngày 24/02/2024).

Nhân thân: Bị cáo đang trong thời gian bị quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số: 84/QĐ-UBND ngày 10/09/2025 của Chủ tịch UBND xã Pà Cò, tỉnh Phú Thọ.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 11/10/2025 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khà A C, sinh ngày 13/01/1980, nơi cư trú: Xóm T, xã P, tỉnh Phú Thọ là đối tượng bị quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số: 84/QĐ-UBND ngày 10/09/2025 của Chủ tịch UBND xã Pà Cò. Sáng ngày 10/10/2025, Công an xã Pà Cò, tỉnh Phú Thọ yêu cầu Khà A C đến trụ sở để kiểm tra chất ma túy. Quá trình kiểm tra bằng que thử nước tiểu của Khà A C cho kết quả: Que test xuất hiện 01 vạch đỏ đậm tại vị trí C tại ô chất ma túy có ký hiệu MET, AMP, OPI trên que test và kết luận Khà A C dương tính với chất ma túy trong cơ thể. Khà A C khai nhận bản thân có sử dụng ma túy, lần gần nhất là ngày 09/10/2025. Tại Cơ quan điều tra Khà A C khai nhận hành vi phạm tội như sau: Chiều ngày 09/10/2025, Khà A C một mình đi bộ từ nhà lên khu vực xóm Thung Mặn, xã Pà Cò, tỉnh Phú Thọ để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đang đi trên đường dân sinh thuộc địa phận xóm Thung Ằng thì C gặp một người đàn ông không quen biết mặc trang phục dân dộc Mông đứng cạnh đường. C dừng lại nói chuyện biết người đàn ông trên có bán ma túy nên đã hỏi mua ma túy với số tiền 70.000 đồng. Người đàn ông nhận tiền rồi lấy từ trong người ra một gói nilon chứa ma túy Heroine và 01 viên ma túy tổng hợp đưa cho C. Mua được ma túy C cất giấu trên người rồi đi bộ quay về nhà. Cùng ngày, tại nhà ở của mình C đã lấy toàn bộ ma túy vừa mua được ra sử dụng hết. Từ sau lần sử dụng ma túy vào ngày 09/10/2025 đến thời điểm bị Công an xã Pà Cò kiểm tra, phát hiện có dương tính với ma túy, Khà A C không sử dụng ma túy thêm lần nào khác.

Tại Kết luận giám định số: 2523/KL-KTHS, ngày 11/10/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:

“Trong dung dịch màu vàng (nước tiểu) trong chai nhựa được dán giấy niêm phong có 01 chữ ký ghi “Đối tượng Khà A C” gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Morphine, Methamphetamine và Amphetamine.

* Morphine là sản phẩm chuyển hóa của Herione (Heroin) trong cơ thể.

* Morphine nằm trong Danh mục IIA, Số thứ tự: 55, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

* Heroine (Heroin) nằm trong danh mục IA, số thứ tự: 09, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

* Methamphetamine nằm trong danh mục IIC, số thứ tự: 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

* Amphetamine nằm trong Danh mục IIB, số thứ tự 5, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”

Tại bản Cáo trạng số: 17/CT-VKS-KV16 ngày 22 tháng 12 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Phú Thọ truy tố Khà A C về tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Phú Thọ luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh, hình phạt: Đề nghị tuyên bố bị cáo Khà A C phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Khà A C từ 24 tháng đến 26 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 11/10/2025.

Về vấn đề khác: Đối với người mà Khà A C khai đã bán ma tuý cho Chứ, kết quả điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ của người này, không xác định được là ai nên không có căn cứ đề nghị xử lý.

Đề nghị áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên về phần án phí và quyền kháng cáo.

Ý kiến của bị cáo: Bị cáo đã nhận được các văn bản tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, quá trình điều tra, truy tố xét xử bị cáo đã được phổ biến quyền và nghĩa vụ, không bị ép cung, mớm cung, bị cáo đồng ý với nội dung Cáo trạng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, bị cáo không thuê Luật sư hoặc nhờ trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho mình, do nghiện ma túy nên bị cáo đã mua ma túy về để sử dụng cho bản thân ngoài ra không có mục đích gì khác, thực tế sau khi mua được ma túy vào ngày 09/10/2025 thì bị cáo đã sử dụng hết số ma túy đó, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Những chứng cứ xác định có tội: Bị cáo đang trong thời gian bị quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, trong thời gian bị quản lý Công an xã Pà Cò đã tiến hành kiểm tra chất ma túy và lập biên bản về ghi nhận kết quả việc thử nhanh chất ma túy là dương tính với ma túy loại Heroine và ma túy tổng hợp và đã tiến hành thu mẫu nước tiểu để giám định. Tại Cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp kết luận giám định cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ để kết luận: Khà A C là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và là đối tượng bị quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số: 84/QĐ-UBND ngày 10/09/2025 của Chủ tịch UBND xã Pà Cò, tỉnh Phú Thọ, với thời hạn 02 năm tính từ ngày 27/02/2024 đến ngày 27/02/2026. Ngày 09/10/2025, Khà A C đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy loại Heroine, Methamphetamine và Amphetamine. Đến ngày 10/10/2025 thì bị Công an xã Pà Cò, tỉnh Phú Thọ tiến hành kiểm tra và phát hiện.

Như vậy có đủ căn cứ xác định bị cáo Khà A C phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.

Chứng cứ xác định không có tội: Không có.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết rõ tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội, trong khi Nhà nước và toàn thể xã hội đang tìm mọi biện pháp phòng, chống tiến tới loại trừ tệ nạn ma tuý ra khỏi cộng đồng bởi tác hại rất lớn của nó, bị cáo từng bị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, sau khi chấp hành xong không lấy đó làm bài học để rèn luyện, cải tạo bản thân mà tiếp tục mua và sử dụng trái phép chất ma túy cho bản thân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý Nhà nước về chất ma túy.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa từng bị kết án, lần này là lần phạm tội đầu tiên, hành vi phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đó là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, cũng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, nguyên nhân, hậu quả của hành vi phạm tội, tiền án, tiền sự, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo nêu trên. Xét cần xử phạt tù có thời hạn với mức án nghiêm khắc, nhưng phù hợp đối với bị cáo, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, tạm giam sau khi tuyên án và về các vấn đề khác mà đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã có ý kiến đề nghị nêu trên. Xét thấy có căn cứ phù hợp quy định pháp luật cần xử lý, giải quyết theo hướng đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về án phí hình sự: Bị cáo Khà A C đã được Tòa án nêu quy định của pháp luật là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp miễn án phí, tuy nhiên bị cáo có ý kiến không làm đơn xin miễn án phí và sẽ tự nguyện nộp theo quy định. Do đó bị cáo Khà A C phải nộp án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh, hình phạt:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

- Tuyên bố bị cáo Khà A C phạm tội Sử dụng trái phép chất ma tuý.

- Xử phạt bị cáo Khà A C 26 (hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giam 11/10/2025.

2. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Bị cáo Khà A C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ