vanban.org

Bản án 04/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 143; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng vào Điều 8; Điều 9; Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 81; khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 82; Điều 83; Điều 84; các Điều 107, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Áp dụng vào Điều 6, Điều 7, khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 32… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình giữa Hồ Thanh H và Nguyễn Thị L"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 143; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 11/3/2026
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung.

+ Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lưu Thị Dung và bà Nguyễn Thị Trang.

+ Thư ký phiên tòa: Ông Lê Song Hào - Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Hà Tĩnh.

+ Đại diện VKSND Khu vực 5 - Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Đậu Thị Hiền Trang - Kiểm sát viên.

Vào hồi 07 giờ 30 phút, ngày 11/3/2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tiếp công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 56/2025/TLST-HNGĐ, ngày 25/11/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2026/QĐST-HNGĐ, ngày 29/01/2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Hồ Thanh H, sinh năm: 1985. Địa chỉ: Thôn Tiên L, xã Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm: 1992. Địa chỉ: Thôn Tiên L, xã Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh (Chổ ở hiện nay: Thôn Cao T, xã Kim Hoa, tỉnh Hà Tĩnh). Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai có tại hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn anh Hồ Thanh H trình bày:

* Về quan hệ hôn nhân: Anh Hồ Thanh H và chị Nguyễn Thị L kết hôn với nhau vào ngày 08/4/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Sơn Phúc, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh (Nay là Ủy ban nhân dân xã Kim Hoa, tỉnh Hà Tĩnh) trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn anh H, chị L chung sống hạnh phúc đến giữa năm 2024 thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân mâu thuẩn do bất động về quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên anh H, chị L thường xuyên xẩy ra tranh cãi và ngày càng gay gắt, đỉnh điểm đến tháng 5/2024 anh H và chị L sống ly thân nhau cho đến nay. Hiện tại anh Hồ Thanh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh Hồ Thanh H được ly hôn chị Nguyễn Thị L.

* Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống giữa anh Hồ Thanh H và chị Nguyễn Thị L có 01 con chung cháu Hồ Bảo Ngọc, sinh ngày 28/4/2016. Sau khi ly hôn, anh H có nguyện vọng giao cháu Hồ Bảo Ngọc cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu Ngọc đủ 18 tuổi.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai anh Hồ Thanh H trình bày không thực hiện việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị L. Tại phiên tòa anh Hồ Thanh H thay đổi lời khai và tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị L mổi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu Ngọc đủ 18 tuổi.

- Phương thức cấp dưỡng: Anh H chuyễn tiền cho chị L định kỳ vào ngày 03 hàng tháng.

- Thời gian cấp dưỡng: Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

* Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh Hồ Thanh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn chị Nguyễn Thị L, sau khi Toà án thụ lý vụ án đã thực hiện tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng gồm thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng chị Nguyễn Thị L vắng mặt tại các buổi làm việc theo yêu cầu của Tòa án không có lý do. Vì vậy, Toà án căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án để giải quyết đúng theo quy định của pháp luật.

* Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về tố tụng và đề xuất đường lối giải quyết vụ án như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý giải quyết vụ án cho đến phiên tòa hôm nay thấy rằng Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn được quy định tại các Điều 48, 49, 51 Bộ luật tố tụng dân sự. Xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; thụ lý vụ án đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự; xác định tư cách pháp lý của đương sự theo đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự; Thụ lý vụ án và thời hạn gửi thông báo thụ lý vụ án đúng theo quy định tại các Điều 195, 196 Bộ luật tố tụng dân sự; lập hồ sơ vụ án theo đúng Điều 204 Bộ luật tố tụng dân sự; tổ chức hòa giải và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ theo đúng quy định tại Điều 205, 208, 209, 210, 211 Bộ luật tố tụng dân sự; thời hạn chuẩn bị xét xử theo đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự và thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu và Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án như nguyên tắc xét xử, thủ tục bắt đầu phiên tòa, thủ tục hỏi tại phiên tòa, thủ tục tranh luận tại phiên tòa. Nguyên đơn anh Hồ Thanh H chấp hành đúng pháp luật, còn bị đơn chị Nguyễn Thị L vắng mặt tại các buổi làm việc, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải; vắng mặt tại các phiên tòa không có lý do là chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại khoản 16 Điều 70, khoản 1 Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc Tòa án tiếp tục xét xử và ra bản án vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

- Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; các Điều 107, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:

+ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Hồ Thanh H được ly hôn chị Nguyễn Thị L.

+ Về quan hệ con chung: Giao cháu Hồ Bảo Ngọc, sinh ngày: 28/4/2016 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu Ngọc đủ 18 tuổi.

+ Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Chấp nhận sự tự nguyện của anh Hồ Thanh H cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị Nguyễn Thị L mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu Ngọc đủ 18 tuổi.

Phương thức cấp dưỡng: Anh H chuyển tiền cho chị L định lỳ vào ngày 03 hàng tháng.

Thời gian cấp dưỡng: Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Anh Hồ Thanh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

+ Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh Hồ Thanh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị hội đồng xét xử miễn xét.

+ Về án phí: Anh Hồ Thanh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng tiền nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Hồ Thanh H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị L. Chị L có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Tiên L, xã Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh (Hiện nay chị L đang sinh sống tại thôn Cao T, xã Kim Hoa, tỉnh Hà Tĩnh). Do vậy, xác định đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Hà Tĩnh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Hồ Thanh H đã có bản khai, bản lấy lời khai trình bày quan điểm giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành các thủ tục phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tố tụng và cũng đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập; thông báo phiên họp kiểm tra, giao nộp tiếp cận chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử cho các đương sự theo đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn anh Hồ Thanh H đã chấp hành đầy đủ, còn bị đơn chị Nguyễn Thị L không thực hiện đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự đó là không có mặt tại Tòa án theo đúng thời gian đã thông báo để tham gia các buổi làm việc, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải và xét xử.

Về quan hệ hôn nhân: Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa anh Hồ Thanh H và chị Nguyễn Thị L được xác lập trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định nên hôn nhân giữa anh Hồ Thanh H và chị Nguyễn Thị L được xác định là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, dù anh Hồ Thanh H và chị Nguyễn Thị L không đồng nhất về nguyên nhân mâu thuẫn nhưng xét đến cùng thì nguyên nhân cũng bắt đầu từ sự bất đồng về quan điểm sống, giữa anh H và chị L không có sự thấu hiểu, quan tâm, thương yêu chăm sóc lẫn nhau nên mâu thuẫn ngày càng gay gắt và trở nên trầm trọng. Điều đó được thể hiện qua thời gian anh H, chị L sống ly thân cũng như trong quá trình Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án, giữa hai anh chị không gặp gỡ, trao đổi, bàn bạc và có ý hàn gắn tình cảm với nhau. Theo kết quả xác minh của Tòa án vào ngày 26/12/2025 tại UBND xã Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, Hội liên hiệp phụ nữ xã Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh thể hiện anh Hồ Thanh H và chị Nguyễn Thị L là vợ chồng, về nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh H và chị L chính quyền địa phương không có căn cứ để xác định tuy nhiên từ giữa năm 2024 cho đến nay anh H và chị L sống ly thân nhau. Điều đó, chứng tỏ hôn nhân của anh Hồ Thanh H và chị Nguyễn Thị L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Hồ Thanh H đối với chị Nguyễn Thị L.

Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống anh Hồ Thanh H và chị Nguyễn Thị L có 01 người con chung cháu Hồ Bảo Ngọc, sinh ngày: 28/4/2016, hiện tại cháu Ngọc đang sống cùng chị Nguyễn Thị L. Sau khi ly hôn anh H có nguyện vọng giao cháu Ngọc cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu Ngọc đủ 18 tuổi. Anh H tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị L mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu Ngọc đủ 18 tuổi.

Phương thức cấp dưỡng: Anh H chuyển tiền cho chị L định kỳ vào ngày 03 hàng tháng

Thời gian cấp dưỡng: Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Theo kết quả xác minh của Tòa án vào ngày 26/12/2025 tại UBND xã Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, Hội liên hiệp phụ nữ xã Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh thể hiện từ giữa năm 2024 cho đến nay chị L là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Ngọc và theo kết quả xác minh của Tòa án vào ngày 19/12/2025 tại trường tiểu học Kim Hoa, tỉnh Hà Tĩnh thể hiện quá trình học tập tại trường cháu Ngọc luôn lễ phép với thầy cô giáo, hòa nhã với bạn bè, không có hiện tượng bỏ học, quá trình học tập tại trường thì chị L là người trực tiếp nộp các khoản cho cháu Ngọc.

Tuy quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị L không có mặt tại các buổi làm việc theo yêu cầu của Tòa án và không cung cấp lời khai về việc nuôi con nhưng hội đồng xét xử xét thấy việc Hồ Thanh H có nguyện vọng giao cháu Ngọc cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng nguyện vọng chính đáng vì từ giữa năm 2024 cho đến nay chị L là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Ngọc, việc học tập, sinh hoạt của cháu Ngọc đều ổn định. Trên cơ sở xem xét một cách toàn diện Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp về mọi mặt của cháu Ngọc thì cần giao cháu Ngọc cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Hồ Thanh H tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị L mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu Ngọc đủ 18 tuổi. Phương thức cấp dưỡng: Anh H chuyển tiền cho chị L định kỳ vào ngày 03 hàng tháng. Thời gian cấp dưỡng:Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Tuy quá trình giải quyết vụ án chị L không cung cấp lời khai về việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung sau khi ly hôn nhưng Hội đồng xét xử thấy sự tự nguyện về việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung của anh H là chính đáng và hoàn toàn tự nguyện nên cần được chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh Hồ Thanh H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về án phí: Anh Hồ Thanh H phải nộp tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng tiền nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 143; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng vào Điều 8; Điều 9; Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 81; khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 82; Điều 83; Điều 84; các Điều 107, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Áp dụng vào Điều 6, Điều 7, khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Hồ Thanh H được ly hôn chị Nguyễn Thị L.

2. Về quan hệ con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hồ Bảo Ngọc, sinh ngày: 28/4/2016 đến khi cháu Ngọc đủ 18 tuổi.

3. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Chấp nhận sự tự nguyện của anh Hồ Thanh H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị Nguyễn Thị L mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu Ngọc đủ 18 tuổi.

- Phương thức cấp dưỡng: Anh H chuyển tiền cho chị L định kỳ hàng vào ngày 03 hàng tháng.

- Thời gian cấp dưỡng: Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Anh Hồ Thanh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

4. Về án phí: Xử buộc anh Hồ Thanh H phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng tiền nuôi con chung, nhưng được khấu trừ trong số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí anh H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000688, ngày 25/11/2025 tại phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Hà Tĩnh. Anh Hồ Thanh Hphải nộp tiếp số tiền 300.000 đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Anh Hồ Thanh H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Chị Nguyễn Thị L vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ