vanban.org

Bản án 04/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H đối với bị đơn ông Mai Thành D về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

1. Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Mai Thành D. 2. Về con chung: giao con chung là Mai A, sinh ngày 23/5/2017, Mai Anh T, sinh ngày 29/10/2020 cho bà Nguyễn Thị H được quyền trực tiếp nuôi; giao con chung là Mai M, sinh ngày 01/11/2011 cho ông Mai Thành D được quyền trực tiế…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H - D"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H đối với bị đơn ông Mai Thành D về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 17 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 08-01-2026
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Ngọc Trung

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Sơn Tây

Ông Đoàn Văn Lước

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Trường Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở, Tòa án nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 199/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1989.

Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx

Địa chỉ thường trú: thôn T, xã T, tỉnh Ninh Bình; địa chỉ tạm trú: thửa đất số 850, tờ bản đồ số 31, tổ C, khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: ông Mai Thành D, sinh năm 1983.

Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx

Địa chỉ thường trú: ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long; địa chỉ tạm trú: thửa đất số 850, tờ bản đồ số 31, tổ C, khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn trình bày:

Bà Nguyễn Thị H và ông Mai Thành D tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn vào năm 2011 tại UBND xã V, huyện N (nay là xã T), tỉnh Ninh Bình, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 14, ngày 17/02/2011.

Trong quá trình chung sống, thời gian đầu thì vợ chồng khá hạnh phúc. Tuy nhiên, thời gian gần đây thì giữa hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, hai vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi vã. Nguyên nhân do ông D không có sự tôn trọng, có hành vi hăm dọa dùng bạo lực với bà H, hai vợ chồng không có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nhận thấy, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm không còn, không thể hàn gắn nên bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông D.

Về con chung: bà H và ông D có 03 con chung là Mai M, sinh ngày 01/11/2011, Mai A, sinh ngày 23/5/2017, Mai Anh T, sinh ngày 29/10/2020. Cả 03 con hiện đang sống chung với bà H và ông D tại khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H hiện đang kinh doanh tự do thu nhập hàng tháng khoảng 20 triệu đồng, ông D thì làm xây dựng nhưng công việc không thường xuyên nên không đảm bảo việc nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Mai Thành D nhưng ông D không đến Tòa án tham gia tố tụng, không gửi văn bản có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Mai Thành D vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật. Vụ án được đưa ra xét xử đúng thời hạn theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định tại chương XIV về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định tại theo các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: không có.

+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Mai Thành D và yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Tại thời điểm thụ lý vụ án, bị đơn ông Mai Thành D đang cư trú tại phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh. Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn ông Mai Thành D đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào các Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H, ông D.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: ngày 17/02/2011, bà Nguyễn Thị H và ông Mai Thành D tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện N (nay là xã T), tỉnh Ninh Bình nên quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông D là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 và Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Xét thấy, bà H xác định giữa hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, hai vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi vã, nguyên nhân do ông D không có sự tôn trọng và có hành vi hăm dọa dùng bạo lực với bà H, hai vợ chồng không có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông D nhiều lần để tiến hành hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng ông D đều vắng mặt, điều này chứng tỏ ông D cũng không có thiện chí mong muốn gia đình được đoàn tụ. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định, hôn nhân giữa bà H và ông D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà H là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 luật Hôn nhân và Gia đình.

[2.2] Về con chung: quá trình chung sống, bà H và ông D có 03 con chung là Mai M, sinh ngày 01/11/2011, Mai A, sinh ngày 23/5/2017, Mai Anh T, sinh ngày 29/10/2020. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi 03 con. Xét thấy, hiện nay, 03 con chung đều đang sống chung với bà H và ông D. Theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình thì sau khi ly hôn, cha mẹ đều có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Bà H cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc ông D không có đủ điều kiện nuôi con. Do đó, đối với con chung là Mai A và Mai Anh T hiện còn nhỏ, cần có sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ nên giao cho bà H được trực tiếp nuôi, giao con chung là Mai M cho ông D trực tiếp nuôi.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 – Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp.

[4] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: bà Nguyễn Thị H phải nộp số tiền 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 238, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 58, 59, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H đối với bị đơn ông Mai Thành D về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Mai Thành D.

1.2. Về con chung: giao con chung là Mai A, sinh ngày 23/5/2017, Mai Anh T, sinh ngày 29/10/2020 cho bà Nguyễn Thị H được quyền trực tiếp nuôi; giao con chung là Mai M, sinh ngày 01/11/2011 cho ông Mai Thành D được quyền trực tiếp nuôi.

1.3. Về cấp dưỡng nuôi con: các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Vì lợi ích hợp pháp của con chung, khi đương sự có yêu cầu Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

1.4. Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: bà Nguyễn Thị H phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0024817 ngày 09/10/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ