vanban.org

Bản án 04/2025/LĐ-ST — Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Các Điều 122, 132, 137 Bộ luật dân sự năm 2005 (Các Điều 117, 122, 127; 131 của Bộ luật dân sự năm 2015);

Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994; Các Điều 15, 49, 50 và Điều 51 Bộ luật Lao động năm 2019; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp — án lao động — "Vụ án lao động"
  • Tòa quyết gì? Các Điều 122, 132, 137 Bộ luật dân sự năm 2005 (Các Điều 117, 122, 127; 131 của Bộ luật dân sự năm 2015);
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16–THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 04/2025/LĐ-ST
Ngày: 07-7-2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng lao động vô
hiệu.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bạch Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Túy Phượng và ông Nguyễn Lê Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 7 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 160/2025/TLST-LĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025 về việc: “Tranh chấp về hợp đồng lao động vô hiệu”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2025/QĐXXST-LĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 160/2025/QĐST-LĐ ngày 12 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Kim T, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn Q, xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã X, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.

2. Bị đơn: Công ty TNHH G; trụ sở: Khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bảo hiểm xã hội thành phố T (nay là Bảo hiểm B xã hội thành phố T - Khu vực XXVII), địa chỉ: Đường N, khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.

3.2. Bà Võ Thị Kim L, sinh năm 1991; địa chỉ: Ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là xã B, tỉnh Đồng Tháp). Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Võ Thị Kim T trình bày:

Bà Võ Thị Kim T có nhu cầu rút Bảo hiểm xã hội nên bà T đã liên hệ Bảo hiểm xã hội thành phố T để làm thủ tục theo quy định. Sau đó, bà T được Bảo hiểm xã hội thành phố T thông báo thời điểm từ tháng 09/2007 đến tháng 07/2009 bà T có ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty TNHH G nên Công ty TNHH G có thực hiện đóng bảo hiểm xã hội cho bà T từ tháng 09/2007 đến tháng 07/2009.

Tuy nhiên, trên thực tế khoảng thời gian nêu trên bà T cũng đã làm việc cho Công ty khác nên cùng một khoảng thời gian bà T đóng bảo hiểm tại 02 Công ty. Do đó, đến nay bà T không thể rút bảo hiểm xã hội theo đúng quy định được.

Vào thời gian nêu trên bà T có cho bà Võ Thị Kim L mượn giấy chứng minh nhân dân của bà T để ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH G với tên của bà T và tham gia bảo hiểm xã hội với tên của bà T từ tháng 09/2007 đến tháng 07/2009, nhưng trên thực tế bà Võ Thị Kim L là người ký kết từ hợp đồng và trực tiếp làm việc tại Công ty TNHH G, do thời điểm nêu trên bà Võ Thị Kim L chưa đủ tuổi lao động nên mới mượn chứng minh nhân dân của bà T để thực hiện ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH G.

Nhận thấy, việc ký kết hợp đồng lao động giữa bà Võ Thị Kim L và Công ty TNHH G là sai quy định đã vi phạm quy tắc trung thực, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà T đang được pháp luật bảo vệ.

Do đó, bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động là Công ty TNHH G và bà Võ Thị Kim T (do bà Võ Thị Kim L là người ký kết) trong khoảng thời gian từ tháng 09/2007 đến tháng 07/2009 vô hiệu.

Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp là Công văn 1337 ngày 23/12/2024.

- Bị đơn Công ty TNHH G đã được Tòa án thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại các Điều 177; Điều 208; Điều 220; Điều 227 và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng Công ty TNHH G không đến Tòa án làm việc và vắng mặt tại phiên tòa.

Qúa trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Kim L trình bày:

Vào tháng 09 năm 2007 bà mượn giấy chứng minh nhân dân của bà Võ Thị Kim T để ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH G và tham gia bảo hiểm xã hội với tên của Võ Thị Kim T từ tháng 09/2007 đến tháng 07/2009, nhưng trên thực tế bà là người ký kết hợp đồng và trực tiếp làm việc với Công ty TNHH G. Do thời điểm nêu trên bà chưa đủ tuổi lao động nên bà mới mượn hồ sơ xin việc làm của bà Võ Thị Kim T để thực hiện ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH G.

Nay, bà Võ Thị Kim T khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động là Công ty TNHH G và bà Võ Thị Kim T (do Võ Thị Kim L là người ký kết) trong khoảng thời gian từ tháng 09/2007 đến tháng 07/2009 vô hiệu thì bà đồng ý.

Ngoài ra, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu và bà xác định không có yêu cầu độc lập trong vụ án.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố T trình bày:

Công ty TNHH G có đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp, Bảo hiểm tai nạn lao động – Bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ-BNN) cho bà Võ Thị Kim T, sinh năm 1988, số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx; mã số Bảo hiểm xã hội 9107200777. Thời gian tham gia từ tháng 09/2007 đến tháng 07/2009, đã được bảo lưu thời giam gia bảo hiểm xã hội từ tháng 09/2007 đến tháng 07/2009 ngày 08/9/2009, đã hưởng BHXH một lần, chưa hưởng BHTN. Bảo hiểm xã hội thành phố T đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật và có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng pháp luật tố tụng. Riêng bị đơn không chấp hành đúng pháp luật tố tụng.

+ Về nội dung: Căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 49 Bộ Luật lao động đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tranh chấp hợp đồng lao động vô hiệu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp: Bà Võ Thị Kim T khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng lao động giữa Công ty TNHH G và bà Võ Thị Kim T (do Võ Thị Kim L là người ký kết) từ tháng 09/2007 đến tháng 07/2009 bị vô hiệu theo quy định của pháp luật. Xét, đây là vụ án “Tranh chấp về hợp đồng lao động vô hiệu” được quy định tại khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn Công ty TNHH G; trụ sở: Khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh). Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.

Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố T, bà Võ Thị Kim L có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn theo đúng quy định tại các Điều 177; Điều 220; Điều 227 và Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự có nghĩa vụ đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc. Bị đơn đã từ bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến Tòa án tham gia tố tụng nên bị đơn phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại khoản 1 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện giữa Công ty TNHH G và bà T (thực tế bà L ký hợp đồng lao động) có giao kết hợp đồng lao động. Bà L làm việc tại Công ty đến tháng 07/2009 là nghỉ việc. Thời gian bà L làm việc tại Công ty, Công ty đóng bảo xã hội cho người lao động. Khi bà L đến Công ty làm việc, bà L cung cấp cho Công ty hồ sơ xin việc thể hiện tên người xin việc là bà Võ Thị Kim T do đó toàn bộ hồ sơ tại Công ty liên quan đến người lao động làm việc cho Công ty đều thể hiện tên Võ Thị Kim T, vì vậy hàng tháng Công ty đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động đều có tên Võ Thị Kim T mà không phải là Võ Thị Kim L. Xét, sự thừa nhận của các đương sự là tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà Võ Thị Kim L dùng nhân thân của bà Võ Thị Kim T để ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH G là không đúng chủ thể xác lập giao dịch dân sự, vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau khi xác lập quan hệ lao động được quy định tại Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994 (Điều 15 Bộ luật Lao động năm 2019). Vì vậy, căn cứ quy định tại Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005 (Điều 127 Bộ luật dân sự năm 2015) xét thấy, yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng lao động giữa người lao động có tên Võ Thị Kim T và người sử dụng lao động Công ty TNHH G từ tháng 09/2007 đến tháng 07/2009 là có cơ sở chấp nhận.

Đối với quyền lợi của bà Võ Thị Kim L do không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn bà Võ Thị Kim T tự nguyện chịu toàn bộ án phí lao động sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; Điều 147, khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Các Điều 122, 132, 137 Bộ luật dân sự năm 2005 (Các Điều 117, 122, 127; 131 của Bộ luật dân sự năm 2015);

Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994;

Các Điều 15, 49, 50 và Điều 51 Bộ luật Lao động năm 2019;

Áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Kim T về việc tranh chấp hợp đồng lao động vô hiệu với bị đơn Công ty TNHH G.

2. Tuyên bố Hợp đồng lao động giao kết giữa bà Võ Thị Kim T, sinh năm 1988, số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx và Công ty TNHH G từ tháng 09 năm 2007 đến tháng 07 năm 2009 bị vô hiệu.

3. Về hậu quả của Hợp đồng lao động vô hiệu: Bảo hiểm xã hội thành phố T (nay là Bảo hiểm B xã hội thành phố T - Khu vực XXVII) thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội đối với bà Võ Thị Kim T theo quy định pháp luật.

4. Về án phí: Bà Võ Thị Kim T tự nguyện chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí lao động sơ thẩm, được khấu trừ số tiền đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000933 ngày 14/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương (nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh).

Công ty TNHH G không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

5. Nguyên đơn; bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

6. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi thời hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ