- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tạm giam bị cáo: Trần Hoàng N, sinh năm 1993; nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; đăng ký thường trú: 15/104D/10 đường Hòa Bình, Phường 3, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 748/16/21 đường Hồng Bàng, Phường 1, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2025/HS-ST Ngày 10/01/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đàm Thu Ánh;
Bà Quách Thị Bích Ngà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Dương – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Trúc Giang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 01 năm 2025, tại Phòng xử A trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khaivụ án hình sự sơ thẩmthụ lý số: 136/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Hoàng N, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 10/10/1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; đăng ký thường trú: đường H, Phường 3, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: đường H, Phường 1, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm công; trình độ văn hoá (học vấn): 01/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông (không rõ) và bà Trần Kim A; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không có; tiền sự: Không có; Nhân thân: Ngày 21/7/2020, bị Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/01/2022, đương nhiên xóa án tích; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/8/2024 tại Nhà tạm giữ Công an Quận 11; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 21/8/2024, Tổ tuần tra 363 Công an Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tuần tra đến số 39/43A Phú Thọ, Phường 1, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện Trần Hoàng N (sinh ngày 10/10/1993) điều khiển xe đạp có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Tại thời điểm kiểm tra Tổ tuần tra phát hiện ở túi quần phía trước bên trái của đối tượng N có một gói thuốc lá hiệu Thăng Long, trong gói thuốc lá có một gói nylon chứa tinh thể là ma túy, trong túi quần bên phải có một ống thủy tinh đầu phễu tròn nên Tổ công tác tạm giữ người và phương tiện cùng vật chứng đưa về trụ sở Công an Phường 1, Quận 11 lập Biên bản phạm tội quả tang đối với Trần Hoàng N. Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể Trần Hoàng N dương tính với ma túy Methamphetamine.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của bị can Trần Hoàng N tại số 748/16/21 Hồng Bàng, Phường 1, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh, tạm giữ một chai nhựa trên nắp có gắn ống hút.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 tiến hành trưng cầu giám định số lượng ma túy thu giữ của Trần Hoàng N. Tại bản kết luận giám định số: 9957/KL-KTHS, ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hồ Chí Minh xác định: tinh thể giám định là ma túy ở thể rắn, khối lượng 0,1025g, loại Methamphetamine.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Hoàng N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Số ma túy bị thu giữ là của N. Khi cần sử dụng ma túy, N liên hệ đối tượng tên A Lủ (chưa rõ lai lịch) nhờ mua ma túy giùm. A Lủ dẫn N qua đầu hẻm số 5 đường Phạm Hùng, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh, A Lủ chạy vô mua ma túy cho N. N quen A Lủ khi đi bán đồ ve chai ở chợ Nhật Tảo, Phường 7, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã đưa bị can N đi xác định địa điểm mua ma túy ở đầu hẻm số 5 đường Phạm Hùng, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh kế bên nhà số C5/2 Phạm Hùng, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh.
Vật chứng và tài sản thu giữ:
- 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 3067/2024 (bên ngoài có chữ ký của giám định viên và điều tra viên) bên trong có chứa ma túy. Sau khi giám định khối lượng còn lại 0,0794 gam.
- 01 (một) gói thuốc lá hiệu Thăng Long.
- 01 (một) chai nhựa trên nắp có gắn ống hút.
- 01 (một) chiếc xe đạp đã qua sử dụng (là xe đạp cũ của bị cáo N dùng để đi lượm ve chai).
- 01 (một) ống thủy tinh đầu phễu.
Bản cáo trạng số: 142/CT-VKSQ11 ngày 22 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị cáo Trần Hoàng N tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Trần Hoàng N từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; đồng thời đề nghị hướng xử lý vật chứng như sau: Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 3067/2024 (bên ngoài có chữ ký của giám định viên và điều tra viên) bên trong có chứa ma túy. Sau khi giám định khối lượng còn lại 0,0794 gam; 01 (một) gói thuốc lá hiệu Thăng Long; 01 (một) chai nhựa trên nắp có gắn ống hút; 01 (một) ống thủy tinh đầu phễu; Trả lại cho bị cáo N: 01 (một) chiếc xe đạp đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo, không liên quan đến vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và các tang vật thu giữ được. Do đó, có đủ cơ sở để xác định:
Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 21/8/2024, tại trước nhà số 39/43A đường Phú Thọ, Phường 1, Quận 11, Trần Hoàng N đã có hành vi cất giữ trái phép 0,1025 gram (không phẩy một không hai năm gam) ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng, thì bị phát hiện bắt quả tang.
Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được việc gây nguy hiểm cho xã hội khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng vẫn thực hiện, nên có lỗi cố ý trực tiếp.
Hành vi của bị cáo đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã vi phạm đến chính sách độc quyền kiểm soát, quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, đặc biệt là các chất gây nghiện thuộc danh mục các chất ma túy, tiền chất và các chất hóa học tham gia vào quá trình chế tạo các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, đồng thời làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Vì vậy cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Về hình phạt bổ sung: Bản thân bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không cần bắt bị cáo phải chịu phạt tiền là hình phạt bổ sung.
Đối với người tên A Lủ (chưa rõ lai lịch) mua giùm ma túy cho bị cáo N và người bán ma túy cho bị cáo, hiện chưa xác định được lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 có thông báo truy tìm A Lủ và người bán ma túy, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
Về xử lý vật chứng:
- Gói niêm phong ghi vụ số 9957 (3067/2024). Bên ngoài có chữ ký của Điều tra viên và giám định viên bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định, đây là chất ma túy; 01 chai nhựa trên nắp có gắn ống hút; 01 ống thủy tinh tròn đầu phểu; 01 gói thuốc lá hiệu Thăng Long, là những dụng cụ bị cáo dùng để sử dụng chất ma túy nên tịch thu và tiêu hủy.
- 01 xe đạp cũ đã qua sử dụng, là tài sản của bị cáo, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo Trần Hoàng N.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 38, Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017),
Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Hoàng N 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/8/2024.
Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017),
Tịch thu và tiêu hủy: Gói niêm phong ghi vụ số 9957 (3067/2024). Bên ngoài có chữ ký của Điều tra viên và giám định viên bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định; 01 chai nhựa trên nắp có gắn ống hút; 01 ống thủy tinh tròn đầu phểu; 01 gói thuốc lá hiệu Thăng Long.
Trả lại cho bị cáo Trần Hoàng N: 01 xe đạp cũ đã qua sử dụng.
(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số: 1158/LNK-ĐCSMT ngày 29/8/2024 và Lệnh nhập kho vật chứng số: 1360/LNK-ĐCSMT ngày 29/10/2024).
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- TAND - VKSND TPHCM;
(Đã ký)
- Sở Tư pháp TPHCM;
- PC 27 - CA TPHCM;
- VKSND Q.11;
- Công an Q.11;
- Chi cục THADS Q.11;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thanh Phúc TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––
–––––––––––––––––––––––––––––––
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 09 giờ 10 phút, ngày 10 tháng 01 năm 2025.
Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đàm Thu Ánh;
Bà Quách Thị Bích Ngà.
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 136/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024, đối với:
Bị cáo Trần Hoàng N; sinh năm: 1993, tại Thành phố Hồ Chí Minh;
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ ĐẠTU:
1. Về điều luật áp dụng:
Căn cứ vào Điều 38, Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017),
Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
2. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
3. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Trần Hoàng N 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/8/2024.
Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
4. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017),
Tịch thu và tiêu hủy: Gói niêm phong ghi vụ số 9957 (3067/2024). Bên ngoài có chữ ký của Điều tra viên và giám định viên bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định; 01 chai nhựa trên nắp có gắn ống hút; 01 ống thủy tinh tròn đầu phểu; 01 gói thuốc lá hiệu Thăng Long.
Trả lại cho bị cáo Trần Hoàng N: 01 xe đạp cũ đã qua sử dụng.
(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số: 1158/LNK-ĐCSMT ngày 29/8/2024 và Lệnh nhập kho vật chứng số: 1360/LNK-ĐCSMT ngày 29/10/2024).
Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
5. Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; các điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
6. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết thống nhất.
Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 20 phút, ngày 10 tháng 01 năm 2025.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Thanh Phúc TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
–––––––––––––––
–––––––––––––––––––––––––––––––
Quận 11, ngày 10 tháng 01 năm 2025
Số: 04/2025/HSST-QĐTG
QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đàm Thu Ánh;
- Bà Quách Thị Bích Ngà.
Căn cứ các điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Biên bản nghị án ngày 10 tháng 01 năm 2025 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;
Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1
Tạm giam bị cáo: Trần Hoàng N, sinh năm 1993; nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; đăng ký thường trú: 15/104D/10 đường Hòa Bình, Phường 3, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 748/16/21 đường Hồng Bàng, Phường 1, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).
Thời hạn tạm giam là 45 ngày (bốn mươi lăm ngày), kể từ ngày tuyên án.
Điều 2
Nhà tạm giữ Công an Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
| Nơi nhận: - VKSND Q.11; - Nhà tạm giữ CA Q11; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Phúc |