vanban.org

Bản án 04/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nghiêm Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 4 của Luật số: 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 về sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật Hình sự; Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nghiêm Văn D 24 (hai mươi bốn) tháng tù. … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự: Nghiêm Văn D - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nghiêm Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 - THANH HÓA
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HS-ST
Ngày 11 - 8 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Huy

Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Nguyễn Xuân Bản;

2. Ông Nguyễn Văn Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Anh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lâm Ngọc Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2025/TLST- HS ngày 15 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2025, đối với:

Bị cáo: Nghiêm Văn D; sinh ngày 12/4/1999, tại phường N, tỉnh Thanh Hóa;

Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường N, tỉnh Thanh Hóa;

Căn cước công dân số: 038099012022.

Nghề nghiệp: Lao động tự do;trình độ văn hóa: Lớp 02/12;

Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Nghiêm Văn B và bà Nguyễn Thị N;

Bị cáo chưa có vợ;

Tiền sự, tiền án: Không

Nhân thân: Ngày 09/9/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng (đã chấp hành xong ngày 13/10/2023).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày ngày 08/4/2025 đến ngày 14/4/2025 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại Tạm giam khu vực N - Thanh Hóa - Có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng: Ông Nguyễn Thanh P - sinh năm 1962

Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường N, tỉnh Thanh Hóa.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào ngày 25/3/2025, Nghiêm Văn D, sinh năm 1999, trú tại tổ dân phố T, phường N, tỉnh Thanh Hóa đã dùng điện thoại của mình liên hệ với người đàn ông tên L qua ứng dụng T để hỏi mua 2.000.000 đồng ma túy thì được người này đồng ý. Sau đó, cả hai gặp nhau tại dốc Đảo thuộc tổ dân phố N, phường N, tỉnh Thanh Hóa rồi trực tiếp đưa tiền mặt và ma túy cho nhau. Mua được ma túy D lấy ra một phần để sử dụng, số còn lại D gói cho vào vỏ bao thuốc lá Thăng L cất giấu vào túi quần để sử dụng dần.

Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 08/4/2025, Tổ công tác phòng Cảnh sát ĐTTP về ma túy Công an tỉnh T phối hợp cùng Công an xã N (nay là Công an phường N) đã tiến hành kiểm tra hành chính và phát hiện trong túi quần bên trái Duân đang mặc có 01 bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 gói ni lông màu trắng mép màu đỏ, bên trong gói chứa chất rắn màu trắng dạng tinh thể nghi là ma túy. Khai thác tại chỗ, D khai nhận chất rắn màu trắng thu giữ là ma túy đá D cất giấu trong người để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nghiêm Văn D về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; thu giữ, niêm phong gói ma túy và chiếc điện thoại di động của D để phục vụ công tác điều tra.

Tại bản kết luận giám định số 1318/KL-KTHS ngày 14/4/2025, Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất rắn màu trắng dạng tinh thể của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,536g Methamphetamine.

Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ thu thập được, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nghiêm Văn D về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Về nguồn gốc ma túy, Nghiêm Văn D khai đã mua của người tên L nhưng bị cáo không biết địa chỉ và thông tin cụ thể của người bán ma túy nên Cơ quan CSĐT không có thông tin để điều tra, xử lý.

Đối với hành vi Nghiêm Văn D sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thông báo đề nghị Công an tỉnh T Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định.

Về vật chứng của vụ án: Quá trình bắt người phạm tội quả tang, Cơ quan điều tra đã thu giữ các vật chứng, tài sản gồm:

- 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành. Bên trong chứa 01 vỏ bao thuốc lá Thăng L và 01 gói ni lông màu trắng mép màu đỏ chứa chất ma túy loại Methamphetamine.

- 01 phong bì niêm phong do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T phát hành. Bên trong chứa 01 điện thoại di động, nhãn hiệu SamSung Galaxy A24, lắp kèm theo thẻ sim số điện thoại 0978.643.022. Các vật chứng trên hiện đang được bảo quản tại Phòng thi hành án Dân sự khu vực 9 - Thanh Hóa chờ xử lý theo quy định.

Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKSKV9 ngày 14/7/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố bị cáo Nghiêm Văn D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quan điểm đã truy tố về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 4 của Luật số: 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nghiêm Văn D từ 21 tháng đến 24 tháng tù.

- Về hình phạt bổ sung, đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Về vật chứng, đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định và các vật dụng đựng ma túy;

Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước chiếc điện thoại di động, bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội.

- Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà: Bị cáo đều thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu.

Phần tranh luận: Không ai có ý kiến tranh luận.

Nói lời sau cùng, bị cáo không trình bày gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều được coi là đúng pháp luật.

Về sự vắng mặt của người làm chứng Nguyễn Thanh P: Ông P, đã được tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy: ông P đã có lời khai trong hồ sơ vụ án; việc vắng mặt của ông P không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Tại phiên toà bị cáo Nghiêm Văn D đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời trình bày của bị cáo phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xác minh tại phiên toà. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Do bản thân nghiện ma túy nên vào ngày 25/3/2025, Nghiêm Văn D đã sử dụng điện thoại của mình liên hệ với người đàn ông tên L để mua ma túy, loại Methamphetamine với số tiền 2.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, D lấy ra một phần để sử dụng, còn lại 0,536g Methamphetamine, bị cáo tàng trữ trong người để sử dụng dần. Hành vi của bị cáo Nghiêm Văn D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 truy tố Nghiêm Văn D theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là hoàn toàn chính xác.

Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) …

b) …

c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Đối với người bán trái phép chất ma túy cho D: Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã áp dụng mọi biện pháp nghiệp vụ để truy tìm đối tượng bán ma túy cho D theo thông tim mà bị cáo cung cấp nhưng không có kết quả. Vì vậy không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ ma túy có tác hại nhiều mặt đến đời sống xã hội, người nghiện ma túy ngày càng ốm yếu, suy kiệt sức khỏe, tinh thần, đặc biệt việc nghiện và sử dụng bằng cách tiêm chích là một trong những nguyên nhân làm lây lan căn bệnh đại dịch HIV, AIDS và cũng là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Nhà nước đã có nhiều biện pháp tuyên truyền giáo dục nhằm ngăn chặn hoạt động liên quan đến tội phạm ma túy; bị cáo nhận thức rõ nhưng vẫn thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là hành vi nguy hiểm cho xã hội, làm hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn, gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần xử lý nhanh chóng kịp thời để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của Nghiêm Văn D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo luôn thành khẩn khai báo nên được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Về nhân thân: Bị cáo không có nhân thân tốt, thể hiện: Ngày 09/9/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng.

Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của từng bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải xử phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo thành người lương thiện. Do hành vi phạm tội của bị cáo diễn ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01/7/2025 nên theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 4 của Luật số: 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật Hình sự, cần áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trước 0 giờ 00 phút ngày 01/7/2025 để xử phạt bị cáo, nhằm làm có lợi cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn. Nếu phạt bổ sung bị cáo là phạt tiền thì bị cáo sẽ lâm vào tình trạng khó khăn và kinh tế và khó có điều kiện để chấp hành toàn bộ bản án. Vì vậy, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về phần vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự cần xử lý vật chứng của vụ án như sau:

- Số ma túy còn lại sau giám định là vật bị cấm lưu hành; vỏ bao thuốc lá Thăng Long đựng ma túy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- Chiếc điện thoại điện thoại di động kèm theo thẻ sim bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước;

Về án phí: Bị cáo Nghiêm Văn D thuộc trường hợp phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa có quyền kháng nghị bản án theo quy định tại các Điều 331; 333; 336; 337 của bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Nghiêm Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 4 của Luật số: 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 về sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật Hình sự; Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nghiêm Văn D 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (08/4/2025).

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ dung cho bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng: Các điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên:

- Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao thuốc lá Thăng Long bị cáo dùng để đựng ma túy;

- Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu SamSung Galaxy A24, số I 350236697821806, số Imei 354376247821800 bên trong lắp sim 0978.643.022 trên sim ghi số 0884048000927117546 máy vỡ màn hình.

Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9

- Thanh Hóa quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số: 04/2025/KV9 ngày 08/8/2025, giữa Đại diện Phòng thi hành án dân sự khu vực 9 và Cán bộ cơ quan CSĐT Công an tỉnh T.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc Nghiêm Văn D, và mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331; 333; 336; 337 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết vụ án. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ