- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Mạnh Hoàng phạm tội: “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thô…"
- Tòa quyết gì? I.Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Mạnh H phạm tội: “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04 /2025/HS-ST Ngày : 30 / 7 /2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Đình Hồng; Ông Hoàng Văn Lược.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Ngọc Lan - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huấn - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2025 , tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2025 /TLST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03 /2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Mạnh H sinh ngày 18 tháng 10 năm1991, tại: Q, Thanh Hóa; Căn cước công dân số 038091026804 do cục C về TTXH cấp ngày 11/8/2022; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã Q, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 12/12 ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam ; Tôn giáo: không; Con ông: Hoàng Văn H1 sinh năm 1970 và bà: Lê Thị H2 sinh năm 1971 ; Có vợ là Nguyễn Thị T sinh năm 1989,có 02 con lớn sinh năm 2015; con nhỏ sinh năm 2025 ; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên toà. Người bị hại: Ông Lê Trọng U sinh năm 1957 ( đã chết) Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Nguyễn Tài L sinh năm 1975 Trú tại: Khu phố A N, phường Q, tỉnh Thanh Hóa ( có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 04 giờ ngày 21/3/2025, Hoàng Mạnh H (có giấy phép lái xe ô tô hạng C số 380116387410 có giá trị đến ngày 28/9/2028) một mình điều khiển xe ô tô BKS 36C-433.33 của mình chở hàng là vỏ lốp xe phế liệu đi từ nhà ở thôn T, xã Q, tỉnh Thanh Hóa đi huyện L, tỉnh Hòa Bình để giao hàng. Đến khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, xe ô tô do H điều khiển đi đến km 293+00 quốc lộ A thuộc địa phận phường Q, tỉnh Thanh Hóa (gần cổng bệnh viện A), H điều khiển xe ô tô đi ở phần đường xe cơ giới bên phải hướng Thanh Hóa-Hà Nội. Khi xe ô tô do H điều khiển đi đến gần khoảng mở dải phân cách cứng giữa đường thì H quan sát thấy ông Lê Trọng U di chuyển từ phía cổng bệnh viện ACA sang đường (khoảng mở dải phân cách cứng giữa đường), cách vị trí xe ô tô của H khoảng 5-10m.Lúc này, Hoàng đạp phanh, đánh lái sang trái để tránh ông U, nhưng do khoảng cách quá gần nên phần đầu xe ô tô do H điều khiển đã đâm trực diện vào người ông Lê Trọng U đẩy văng lê ông U về trước sang vị trí dải phân cách mở. Hậu quả: làm ông U tử vong tại chỗ, xe ô tô bị hư hỏng một số chi tiết bộ phận, H xuống xe và ở lại hiện trường cho đến khi Cơ quan Công an đến giải quyết.
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã tiến hành khám nghiệm hiện trường; trưng cầu khám nghiệm tử thi, phương tiện đồng thời tiến hành các bước điều tra, xác minh theo quy định của pháp luật. Kết quả thu được như sau:
* Khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường chung là đường Q có hai chiều xe chạy riêng biệt, được ngăn cách nhau bằng dải phân cách cứng giữa đường. Đoạn đường nơi xảy ra vụ tai nạn nằm trên chiều đường T-Hà Nội có 03 làn xe chạy: 02 làn xe cơ giới rộng 3,5m/làn, 01 làn xe thô sơ rộng 1,2m/làn. Đoạn đường có dải phân cách mở, có hệ thống biển báo chỉ dẫn bệnh viện, nơi quay đầu xe, nơi người đi bộ qua đường, biển báo giao nhau với đường không ưu tiên, vạch kẻ dành cho người đi bộ qua đường.
Quá trình khámnghiệm thống nhất lấy chân cột biển km 293 làm điểm mốc, lấy mép đường bên trái của chiều đường T-Hà Nội làm mép chuẩn. Các dấu vết trên hiện trường được đánh số từ (1) đến (6) để lại như sau:
(1) Vết trượt lốp có kích thước (15,4 x0,13)m. Vết có kích thước, chiều hướng nam-bắc, chếch từ đông sang tây. Đầu vết cách mép chuẩn 2,05m, cách mốc 3,5m. Cuối vết cách mép chuẩn là 2,01m.
(2) Vết trượt lốp có kích thước (13,05 x 0,15)m, vết có chiều nam- bắc, chếch đông tây. Đầu vết cách mép chuẩn là 0,1m, cách đầu vết (1) là 6,15m, cuối vết cách mép chuẩn là 3,7m.
(3) Vết trượt lốp có kích thước (6,8 x 0,04)m, vết có chiều nam-bắc, chếch đông-tây. Đầu vết cách mép chuẩn là 1,92m, cách đầu vết (2) là 1,89m, cuối vết cách mép chuẩn là 0,1m.
(4) Vết trượt lốp có kích thước (18,4 x0,21)m, vết có chiều nam-bắc, chếch đông tây. Đầu vết cách mép chuẩn là 0,49m, cách đầu vết (3) là 2,4m, cuối vết cách mép chuẩn là 2,72m. Bề mặt vết tại một số vị trí bám dính chất màu đỏ dạng máu (đầu vết), chất màu nâu dạng tổ chức cơ thể người.
(5) Nạn nhân tư thế nằm ngửa,02 chân dạng. Đỉnh đầu nạn nhân cách mép chuẩn là 1,28m, cách đầu vết (4) là 20,67m, gót chân trái cách mép chuẩn là 2,5m.
(6) Xe ô tô BKS 36C-433.33 dừng lại ở khoảng mở của dải phân cách cứng, đầu xe hướng bắc, đuôi xe hướng nam. T1 bánh trước bên phải cách mép chuẩn là 0,45m, tâm bánh sau bên phải cách mép chuẩn là 0,56m, cách đầu vết (5) là 5,57m.
* Khám nghiệm phương tiện:
Dấu vết trên xe ô tô BKS 36C-433.33
- Mặt trước đầu xe cách thành xe bên trái 100cm có vết tỳ trượt làm sạch bụi đất; nứt, vỡ nhựa móp méo kim loại kích thước 126cm x 43cm, vết có chiều từ trước về sau, chếch từ dưới lên trên, bề mặt vết in các vân sọc song song (dạng vân vải), vết cao cách mặt đất 30cm-156cm, vết làm móp méo ba-đờ-xốc trước, trán xe, nứt, vỡ kính chắn gió trước.
- Mặt lăn, má trong, má ngoài lốp trước bên phải tương ứng hàng chữ “MT285” đến hàng số “285-04” (theo cùng chiều chuyển động tiến); mặt lăn má trong, má ngoài hàng lốp sau bên phải tương ứng hàng chữ “SAM02” có vết tỳ trượt làm sạch bụi đất, vết có chiều từ ngoài vào tâm, bề mặt vết bám dính chất màu nâu đỏ (nghi máu, dạng tổ chức cơ thể người).
* Khám nghiệm tử thi nạn nhân Lê Trọng U
a. Dấu vết trên quần áo:
+ Áo dài tay kẻ sọc màu trắng, đen: Mặt ngoài thân áo trước, ống tay áo hai bên có vết cà trượt, tỳ trượt làm sờn, rách vải, bề mặt vết bám dính bụi đất và chất màu đen.
+ Quần dài: Mặt ngoài ống quần hai bên có vết tỳ trượt, cà trượt làm sờn, nhăn, rách vải, bề mặt vết bám dính bụi, đất, chất màu nâu đỏ (dạng máu).
b. Dấu vết tổn thương trên cơ thể:
+ Vết rách da, sây sát da, bầm tụ máu không liên tục, không rõ hình vùng trán, thái dương hai bên, toàn bộ vùng mặt, tai trái, tai phải trong diện 24,5cm x 16cm, vết có nhiều chiều hướng, bờ mép vết rách da nham nhở. Đầu mặt biến dạng, gãy xương chính mũi, xương gò má hai bên, gãy xương hàm trên, gãy xương hàm dưới.
+ Vùng cổ trước, cổ hai bên, vùng ngực, vùng bụng, vùng hông hai bên có vết tỳ trượt, bầm tụ máu, sây sát da không liên tục trong diện 32cm x 56cm, vết có chiều từ trái qua phải, từ trước về sau, bề mặt vết in các vân (dạng ta-lông lốp). Gãy cung bên, cung sau toàn bộ xương sườn hai bên. Lồng ngực sập, biến dạng.
+ Vết sây sát da, bầm tụ máu, rách da, cơ không rõ hình, không liên tục trong diện 57cm x 11cm, mặt trước ngoài sau cánh tay, cẳng tay và bàn tay phải, vết có chiều từ trước về sau, từ dưới lên trên, bờ mép vết rách da nham nhở, lộ xương cẳng tay và xương bàn tay.
+ Vết sây sát da, bầm tụ máu, rách da không liên tục, không rõ hình trong diện 59cm x 10,5cm, mặt trước ngoài sau cánh tay,cẳng tay và mu bàn tay trái,vết có chiều từ trước về sau, từ dưới lên trên, bờ mép vết rách da nham nhở, gãy 1/3 giữa xương cánh tay trái.
+ Vết dập,rách đứt da, cơ không rõ hình vùng bụng, bẹn, bộ phận sinh dục, hậu môn, 1/3 đùi trái trong diện 42cm x 51cm, vết có chiều từ trước về sau, bờ mép vết đứt, rách nham nhở.
+ Vết sây sát da, dập rách, bầm tụ máu không liên tục, không rõ hình trong diện 62cm x 18cm mặt trước trong ngoài đùi phải,gối phải đến bàn chân phải, vết có chiều từ trước về sau, từ phải qua trái, bờ mép vết rách da nham nhở, dập nát bàn chân phải, gãy đầu dưới hai xương cẳng chân phải.
+ Vùng lưng có các vết sây sát da, bầm tụ máu không rõ hình, không liên tục trong diện 48cm x 22,5cm, vết có nhiều chiều hướng.
c. Mổ tử thi:
Vùng bụng, bẹn: Tổ chức dưới da, cơ vùng bụng dập, rách tụ máu diện rộng. Các tạng trong ổ bụng (gan, các quai tiểu tràng, đại tràng....) và tổ chức phổi dập, rách, đứt thoát ra ngoài qua vết rách da. Tổ chức da, cơ vùng bẹn trái, đùi trái dập, rách, đứt hoàn toàn, tụ máu,gãy đầu trên xương đùi trái, chân trái đứt lìa hoàn toàn khỏi cơ thể.
* Kết luận giám định về dấu vết cơ học:
Tại bản Kết luận giám định số 1376/KL-KTHS ngày 18/4/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
(1) Dấu vết tỳ trượt tại mặt trước đầu xe cách thành xe bên trái 100cm, mặt lăn, má trong, má ngoài lốp trước bên phải tương ứng hàng chữ “MT285” đến hàng số “285-04” (theo cùng chiều chuyển động tiến); mặt lăn má trong, má ngoài hàng lốp sau bên phải tương ứng hàng chữ “SAM02” xe ô tô BKS 36C-433.33 (ảnh 5 đến 20) phù hợp do va chạm với áo, quần và người ông Lê Trọng U tạo nên.
(2) Tại thời điểm xảy ra va chạm xe ô tô BKS 36C-433.33 chuyển động theo hướng từ thành phố T đi thành phố Hà Nội; không đủ cơ sở xác định chiều hướng chuyển động của ông Lê Trọng U.
(3) Vị trí xảy ra va chạm giữa xe ô tô BKS 36C-433.33 với ông Lê Trọng U nằm sau đầu vết tỳ trượt (1) đến đầu vết tỳ trượt (4), được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, thuộc chiều đường theo hướng thành phố T đi thành phố Hà Nội, ngay khu vực khoảng mở dải phân cách cứng giữa đường Q với đường vào Bệnh viện A.
(4) Không đủ cơ sở xác định vận tốc của xe ô tô BKS 36C-433.33 tại thời điểm xảy ra va chạm.
* Kết quả giám định tử thi:
Tại bản Kết luận giám định tử thi Lê Trọng U số 1313/KLGĐTT-PC09 ngày 11/4/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Nguyên nhân chết: Đa chấn thương.
* Kết quả kiểm tra nồng độ cồn, ma túy:
- Tại bản kết luận giám định số 2680/2025/KL-KTHS ngày 31/3/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Trong mẫu máu ghi thu của Hoàng Mạnh H niêm phong gửi giám định không có ethanol (cồn).
- Tại bản kết luận giám định số 2681/2025/KL-KTHS ngày 30/3/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Trong mẫu máu ghi thu của ông Lê Trọng U niêm phong gửi giám định không có ethanol (cồn).
- Tại bản kết luận giám định số 2678/KT-KTHS ngày 02/4/2025 của V Bộ C1 kết luận: không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy trong mẫu máu ghi thu của Hoàng Mạnh H gửi giám định.
* Thiệt hại tài sản: Xe ô tô BKS 36C-433.33 bị hư hỏng một số chi tiết, bộ phận. Hoàng Mạnh H không yêu cầu đề nghị gì đối với phần hư hỏng của xe ô tô (Bút lục:142).
* Về tài sản, giấy tờ thu giữ:
- 01 xe ô tô, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, 01 giấy chứng nhận kiểm định, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô BKS 36C-433.33 sau khi phục vụ quá trình điều tra, giải quyết vụ án và tra cứu xác minh nguồn gốc phương tiện xong, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã ra quyết định trả đầy đủ phương tiện cùng toàn bộ giấy tờ liên quan cho chủ sở hữu.
- 01 (một) giấy phép lái xe ô tô hạng C số 380116387410 mang tên Hoàng Mạnh H (bản gốc) được chuyển theo hồ sơ vụ án để chờ giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Về trách nhiệm dân sự:
Sau khi vụ tai nạn xảy ra Hoàng Mạnh H và gia đình đã chủ động thăm hỏi, động viên, xin lỗi gia đình bị hại Lê Trọng U đồng thời tự nguyện thỏa thuận bồi thường dân sự, đền bù tổn thất tinh thần, chi phí mai táng cho gia đình ông Lê Trọng U số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng). Đại diện gia đình là anh Nguyễn Tài L đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu Hoàng Mạnh H phải bồi thường gì thêm và có đơn đề nghị cơ quan pháp luật giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Hoàng Mạnh H.
Tại bản cáo trạng số 01/ CT-VKSBS ngày 07/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 –Thanh hoá đã truy tố Hoàng Mạnh H về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ” theo điểm a khoản 1 điều 260 của BLHS. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6- Thanh Hoá đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Hoàng Mạnh H phạm tội: “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” . Đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 1 điều 260; điểm b,s khoản 1 và khoản 2 điều 51; điều 38; điều 65 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Mạnh H mức án từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hoàng Mạnh H đã khắc phục hậu quả bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 150.000.000đ ( Một trăm năm mươi triệu đồng), gia đình người bị hại đã nhận đủ số tiền nêu trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị miễn xét .
*Về xử lý tài sản tạm giữ: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 3 điều 106 BLTTHS trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số 380116387410 mang tên Hoàng Mạnh H ( bản gốc). Đồng thời, đề nghị HĐXX tuyên buộc bị cáo nộp án phí HSSTtheo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T ; Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6- Thanh Hoá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩmquyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 5 giờ 30 phút ngày 21/3/2025 Hoàng Mạnh H điều khiển xe ô tô có BKS 36 C-433.33 của mình đi từ nhà đi huyện L tỉnh Hòa Bình. Khi xe ô tô do H điều khiển đang đi ở làn đường xe cơ giới bên phải hướng Thanh Hoá – Hà Nội đi đến km 293+00 quốc lộ A thuộc địa phận phường Q, tỉnh Thanh Hóa ( gần cổng bện viện ACA), do H không chấp hành báo hiệu biển báo giao thông ( biển chỉ dẫn bệnh viện, nơi quay đầu xe, nơi người đi bộ qua đường, biển báo giao nhau với đường không ưu tiên, vạch kẻ dành cho người đi bộ qua đường, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn. Ông Lê Trọng U di chuyển từ cổng bệnh viện ACA qua đường không chú ý quan sát,không đảm bảo an toàn dẫn đến xe ô tô do H điều khiển đã đâm trực tiếp với ông Lê Trọng U. Hậu quả làm ông Lê Trọng U tử vong tại chỗ. Vì vậy, hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 điều 260 BLHS.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự:
Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi phạmtội của bị cáo gây ra nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông, xâm phạm đến tính mạng của người khác. Do đó, cần xét xử bị cáo bằng một mức án nghiêm minh nhằm răn đe, giáo dục và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm về trật tự an toàn giao thông nói riêng.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự: Xét thấy, quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai báo thật thà, thành khẩn,sau khi phạm tội đã khắc phục hậu quả bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại số tiền là: 150.000.000đ ( Một trăm năm mươi triệu đồng), quá trình điều tra và tại phiên toà người đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên khi lượng hình được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 điều 51 của BLHS. Ngoài ra, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Xét về nhân thân: Xét nhân thân bị cáo chưa có tiền án tiền sự, phạm tội do lỗi vô ý. Mặt khác, HĐXX cũng xét người bị hại cũng có một phần lỗi khi sang đường không quan sát, không đảm bảo an toàn vi phạm quy định tại khoản 1 điều 30 Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ năm 2024. Vì vậy, HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và đồng thời cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo cải tạo tại địa phương thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự quá trình điều tra bị cáo đã khắc phục hậu quả bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 150.000.000đ ( một trămnămmươi triệu đồng), gia đình người bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xét.
Về xử lý tài sản tạm giữ:
- Căn cứ điểm a khoản 3 điều 106 BLTTHS trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số 380116387410 mang tên Hoàng Mạnh H ( bản gốc).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Hoàng Mạnh H phải nộp án phí HSST là: 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) .
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
I.Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Mạnh H phạm tội: “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Áp dụng: Điểm a khoản 1 điều 260; điểm b,s khoản 1 và khoản 2 điều 51; điều 38; điều 65 BLHS.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Mạnh H 15 ( mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 ( ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ( 30/7 /2025).
Giao bị cáo Hoàng Mạnh H cho UBND xã Q, tỉnh Thanh Hoá giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạmnghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
*Về tài sản tạm giữ: áp dụng điểm a khoản 3 điều 106 BLTTHS trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số 380116387410 mang tên Hoàng Mạnh H ( bản gốc).
*Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hoàng Mạnh H đã khắc phục hậu quả bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 150.000.000đ ( Một trăm năm mươi triệu đồng), người bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xét.
II.Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Hoàng Mạnh H phải nộp án phí HSST là: 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) .
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo và người đại diện hợp pháp cho người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ( 30/ 7 /2025).
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND Khu vực 6 –Thanh hoá - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của bị hại. - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - CQĐT CA tỉnh Thanh Hóa - Cơ quan Thi hành án hình sự; - TAND tỉnh Thanh Hóa - Phòng THA dân sự KV6 tỉnh Thanh Hoá ; - Lưu hồ sơ vụ án. | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thị Hương |