vanban.org

Bản án 04/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 22/07/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thào Thị S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về điều luật áp dụng và hình phạt: Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Thào Thị S 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, là ngày 14-01-2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thào Thị S mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thào Thị S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5- LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HS-ST
Ngày 22-7-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5- LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Việt Cường;

2. Ông Hoàng Văn Vĩnh.

Thư ký phiên toà: Bà Lù Thị Minh- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5-Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5-Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Huế- Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5- Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2025, đối với bị cáo:

Thào Thị S, sinh ngày 18 tháng 8 năm 1987 tại huyện T, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: Thôn H, xã T, tỉnh Lào Cai (trước sáp nhập là xã T, huyện T, tỉnh Yên Bái); nghề nghiệp: Lao động trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thào A L và bà Giàng Thị D; có chồng là Giàng A K và có 02 con (lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2010); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị tạm giữ từ ngày 14-01-2025, bị tạm giam từ ngày 17-01-2025; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lương Thị Ngọc P- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Giàng A K, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn H, xã T, tỉn L (trước sáp nhập là xã T, huyện T, tỉnh Yên Bái); có mặt.

- Những người tham gia tố tụng khác: Người phiên dịch tiếng Mông: Ông Hờ A S1; địa chỉ thôn L, xã P, tỉnh Lào Cai; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 14-01-2025 tại trục đường từ thôn H, xã T đến thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Yên Bái (nay là xã T, tỉnh Lào Cai) Thào Thị S gặp một người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt, không rõ tên, tuổi, địa chỉ. Qua trao đổi, nói chuyện S đã mua của người đàn ông này 02 gói Heroine, trong đó có 01 gói nilon màu đen bên trong có một gói nilon màu trắng chứa Heroin và 01 gói được quấn bằng băng dính màu đen bên ngoài, bên trong có 02 gói nilon màu trắng chứa Heroine. Người đàn ông nói bán số Heroine cho S với giá 8.000.000 đồng và nói do có biết vợ chồng S nên bán nợ cho khoảng 10 ngày sau sẽ quay lại lấy tiền. Thào Thị S sau khi đã mua được H đã cất giấu vào trong túi quần với ý định sẽ bán lại để kiếm lợi. Trên đường về, do bị đau bụng nên S dừng lại ở ven suối và lấy một ít Heroine ra sử dụng bằng cách hòa vào nước để uống, số Heroine còn lại S vẫn cất giấu trên người rồi đi về nhà. Khoảng 13 giờ cùng ngày Thào Thị S điều khiển xe mô tô đi xuống thị xã N, tỉnh Yên Bái để sửa điện thoại và bán số ma túy vừa mua được, khi Thào Thị S đi đến thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Yên Bái thì bị Công an xã T phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 gói nilon màu đen bên trong có 01 gói nilon màu trắng có chứa Heroine, 01 gói được quấn bằng băng dính màu đen bên trong có 02 gói nilon màu trắng, trong mỗi gói nilon màu trắng đều có chứa Heroine và 01 xe máy biển kiểm soát 21H1-222.90. Thào Thị S khai nhận số chất bột nén màu trắng bị thu giữ là Heroine S mua của một người đàn ông không quen biết với giá 8.000.000 đồng mục đích để bán kiếm lợi. Công an xã T đã bàn giao Thào Thị S và các tài liệu có liên quan đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T để khởi tố, điều tra theo thẩm quyền.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Thào Thị S tại thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Yên Bái. Kết quả không phát hiện, thu giữ gì.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định trưng cầu giám định số: 27/QĐ ngày 14-01-2025, trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh Y giám định chất ma túy thu giữ khi bắt quả tang Thào Thị S.

Kết luận giám định số: 84/KL-KTHS ngày 22-01-2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Y kết luận:

Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Thào Thị S có khối lượng là: 27,3 gam (Hai mươi bẩy phẩy ba gam). 0,3 gam trích từ 27,3 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.

Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục ma túy và tiền chất.

Cáo trạng số: 20/CT-VKS-TT ngày 04-6-2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái đã truy tố bị cáo Thào Thị S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà bị cáo Thào Thị S khai nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy bị cáo đã thực hiện vào ngày 14-01-2025 như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố; đối với chiếc xe máy màu sơn đỏ, đen, biển số 21H1-222.90, đã cũ, đã qua sử dụng bị Công an thu giữ, chiếc xe này là của chồng bị cáo Giàng A K, ngày 17-02-2025 cơ quan Công an trả lại chiếc xe này cho chồng bị cáo; bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở xã đặc biệt khó khăn đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Giàng A K trình bày đối với chiếc xe máy màu sơn đỏ, đen, biển số 21H1-222.90, đã cũ, đã qua sử dụng bị Công an thu giữ khi bắt quả tang bị cáo Thào Thị S là xe máy của anh mua làm phương tiện đi lại cho gia đình, ngày 14-01-2025 anh không biết Thào Thị S sử dụng chiếc này đi mua bán ma túy. Chiếc xe này là anh đã được Cơ quan điều tra trả lại nên anh không có ý kiến gì.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Thào Thị S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Thào Thị S từ 12 năm tù đến 13 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp lao động trồng trọt, bản thân bị cáo không có tài sản riêng, đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý vật chứng như sau: Tịch thu và tiêu hủy 27 gam Heroine được cho vào 01 túi nilon màu trắng, niêm phong vào một phong bì thư do Phòng K1 Công an tỉnh Y phát hành; 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong, các mảnh nilon gói; mảnh băng dính màu đen.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa nhất trí với nội dung bản cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo bị cáo là người dân tộc thiểu số, không biết tiếng Việt, không biết chữ nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế; khối lượng ma túy bị cáo mua bán đã được Công an thu giữ kịp thời nên chưa phát tán ra cộng đồng, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo dưới mức án kiểm sát viên đề nghị; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, về án phí đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí cho bị cáo; về xử lý vật chứng nhất trí như đề nghị của Kiểm sát viên.

Trong phần tranh luận, bị cáo Thào Thị S không bổ sung thêm lời bào chữa của người bào chữa, không tranh luận với Kiểm sát viên.

Ý kiến tranh luận của Kiểm sát viên: Khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ để mua bán là 27,3 gam, theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự thì mức hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù, trên cơ sở xem xét toàn diện các tình tiết của vụ án, tình tiết giảm nhẹ, khối lượng ma túy bị cáo mua bán và nhân thân bị cáo thì mức đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 năm đến 13 năm tù là phù hợp, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm luận tội đối với bị cáo.

Bị cáo, người bào chữa không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì thêm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Do thiếu hiểu biết, nhất thời phạm tội, bị cáo hối hận về hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện, các con của bị cáo còn nhỏ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Y, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo Thào Thị S tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 14-01-2025 tại thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Yên Bái (nay là thôn P, xã T, tỉnh Lào Cai), bị cáo Thào Thị S đã có hành vi tàng trữ trái phép 27,3 gam Heroine mục đích để bán kiếm lợi thì bị Công an xã T, huyện T, tỉnh Yên Bái phát hiện bắt quả tang.

Với hành vi tàng trữ trái phép 27,3 gam Heroine mục đích để bán của bị cáo Thào Thị S đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã được viện dẫn nêu trên là có căn được chấp nhận.

Bị cáo Thào Thị S là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức rõ việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vì động cơ vụ lợi, bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích vụ lợi bất chính.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi tàng trữ 27,3 gam Heroine mục đích để bán của bị cáo Thào Thị S đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý; làm ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, lan tràn tệ nạn nghiện chất ma tuý và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, xâm hại trật tự an toàn xã hội.

Xét nhân thân: Bị cáo là phụ nữ, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự nên cần xác định bị cáo là người có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Kiểm sát viên, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, nên được chấp nhận.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, phòng ngừa chung trong cộng đồng.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa xét thấy bị cáo nghề nghiệp lao động trồng trọt, gia đình không có tài sản gì có giá trị lớn, bản thân bị cáo không có tài sản riêng. Kiểm sát viên, người bào chữa đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là có căn cứ, nên được chấp nhận.

Về vật chứng và tài sản tạm giữ trong vụ án:

- Đối với 27,3 gam Heroine thu giữ khi bắt quả tang bị cáo Thào Thị S, Phòng K1 Công an tỉnh Y lấy 0,3 gam Heroine làm mẫu vật giám định. Số Heroine còn lại 27 gam được cho vào 01 túi nilon màu trắng, niêm phong vào một phong bì thư do Phòng K1 Công an tỉnh Y phát hành; đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với các mảnh nilon gói; mảnh băng dính màu đen là những công cụ bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội, xét thấy không có giá trị hoặc không sử dụng được cần tịch thu và tiêu hủy.

- Đối với 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong, là vật không có giá trị hoặc không sử dụng được cần tịch thu và tiêu hủy.

- Đối với 01 chiếc xe máy màu sơn đỏ, đen, biển số 21H1-222.90, đã cũ, đã qua sử dụng thu giữ khi bắt quả tang bị cáo. Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy này là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Giàng A K, việc bị cáo sử dụng vào việc phạm tội anh K không biết và không có lỗi, ngày 17-02-2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho Giàng A K chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các đối tượng và hành vi có liên quan:

Đối với người đàn ông đã bán Heroine cho bị cáo vào ngày 14-01-2025. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ của người này nên không có căn cứ xử lý trong vụ án.

Về án phí và quyền kháng cáo:

- Về án phí: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo, Kiểm sát viên, người bào chữa đề nghị Hội đồng xem xét miễn án phí cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có đủ điều kiện được miễn án phí theo quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị của bị cáo, Kiểm sát viên, người bào chữa là có căn cứ nên được chấp nhận.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thào Thị S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Thào Thị S 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, là ngày 14-01-2025.

3. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu và tiêu hủy: 27 gam Heroine được cho vào 01 túi nilon màu trắng, niêm phong vào một phong bì thư do Phòng K1 Công an tỉnh Y phát hành; 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong; các mảnh nilon gói; mảnh băng dính màu đen.

Các vật chứng có đặc điểm được mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05-6-2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Y và Chi cục thi hành án dân sự huyện Trạm Tấu.

4. Về án phí và quyền kháng cáo:

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Thào Thị S được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Giàng A K có quyền kháng cáo phần bản án liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ