- Tranh chấp gì? án hình sự — "Kpă Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Kpă Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2025/HS-ST Ngày: 05/8/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Viết Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nay Phen; nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí
2. Ông Phan Nam Định; nghề nghiệp: Giáo viên
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Hoàng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 12 - Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Chinh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HS ngày 22/7/2025 đối với bị cáo:
Kpă Th, sinh ngày:15/6/2006, tại tỉnh Gia Lai; trú tại: Thôn Plơi Toan, xã Ia T, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 3/12; dân tộc: Ja Rai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Siu A Mup, sinh năm 1979 và bà: Kpă H’Tuy, sinh năm 1983; tiền án : Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/01/2025 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
+Bà: Kpă H’Ph (Chết)
+ Chị: Kpă H’L, sinh năm 1996
Trú tại: Bôn Chơ Ma, xã I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
+ Kpă S, sinh năm 2022
Trú tại: Bôn Chơ Ma, xã I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
+ Anh: Nay Th, sinh năm: 2005
Trú tại: Thôn Plơi Toan, xã Ia T, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Kpă S: Bà Bùi Thị Phượng-Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Pleiku. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp cho bị hại Kpă S: Anh Nay Mã, sinh năm: 1993
Trú tại: Bôn Chơ Ma, xã I, tỉnh Gia Lai là bố ruột của bị hại Kpă S. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp cho bị hại Kpă H’Ph:
1.Ông: Rcom Tơuk, sinh năm: 1954
Trú tại: Bôn Chơ Ma, xã I, tỉnh Gia Lai là chồng của bị hại Kpă H’Ph.
2. Chị: Kpă H’ Gui, sinh năm: 1980
Trú tại: Bôn Chơ Ma, xã I, tỉnh Gia Lai là con ruột của bị hại Kpă H’Ph.
3. Chị: Kpă H’ Lai, sinh năm: 1982
Trú tại: Bôn Chơ Ma, xã I, tỉnh Gia Lai là con ruột của bị hại Kpă H’Ph.
4. Chị: Kpă H’ Tlak, sinh năm: 1984
Trú tại: Bôn Chơ Ma, xã I, tỉnh Gia Lai là con ruột của bị hại Kpă H’Ph.
5. Chị: Kpă H’ MLãi, sinh năm: 1989
Trú tại: Bôn Chơ Ma, xã I, tỉnh Gia Lai là con ruột của bị hại Kpă H’Ph.
6. Anh: Kpă Ngok, sinh năm: 1992
Trú tại: Bôn Chơ Ma, xã I, tỉnh Gia Lai là con ruột của bị hại Kpă H’Ph.
7. Chị: Kpă H’ Nãi, sinh năm: 1994
Trú tại: Bôn Chơ Ma, xã I, tỉnh Gia Lai là con ruột của bị hại Kpă H’Ph.
8. Chị: Kpă H’ Lép, sinh năm: 1996
Trú tại: Bôn Chơ Ma, xã I, tỉnh Gia Lai là con ruột của bị hại Kpă H’Ph.
9. Anh: Kpă Bớt, sinh năm: 2000
Trú tại: Bôn Chơ Ma, xã I, tỉnh Gia Lai là con ruột của bị hại Kpă H’Ph.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà tất cả những người đại diện hợp pháp cho bị hại Kpă H’Ph đều thống nhất uỷ quyền cho ông Rcom Tơuk, sinh năm:1954 là chồng của bị hại Kpă H’Ph tham gia tố tụng và quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Siu Amup, sinh năm: 1979
Trú tại: Thôn Plơi Toan, xã Ia T, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người làm chứng:
+ Anh: Siu Mươi, sinh năm: 2009
Trú tại: Thôn Plơi Toan, xã Ia T, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
+ Anh: Nguyễn Văn Hùng,sinh năm: 2001
Trú tại: Thôn Kim Năng, xã I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
+ Chị: Nguyễn Thị Tỳ, sinh năm: 1978
Trú tại: Bôn Trôk, xã I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
+ Chị: Kpă H’Gui, sinh năm: 1980
Trú tại: Bôn Chơ Ma, xã I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
+ Anh: Ksor Phớt, sinh năm: 1983
Trú tại: Bôn Trôk, xã I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
+ Chị: Kpă H’Yên, sinh năm: 2007
Trú tại: Bôn Chơ Ma, xã I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp cho người làm chứng Siu Mươi: Ông Rmah Kong, sinh năm: 1984
Trú tại: Thôn Plơi Toan, xã Ia T, tỉnh Gia Lai.(Bố ruột của người làm chứng Siu Mươi). Có mặt.
- Người phiên dịch tiếng Jrai: Ông Siu Hiếu
Địa chỉ: Tổ 9, phường Ayun P1, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 23/11/2024, Kpă Th (không có giấy phép lái xe theo quy định) cùng với Nay Th; Siu Mươi và Nguyễn Văn Hùng uống bia tại quán “Lai Dai Quán” thuộc xã Ia Mr, huyện I. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày thì nhóm của Th ra về. Khi về, Th1 nhờ Th điều khiển xe mô tô BKS 81M1-095.06 của Th chở Th1 về Bôn Ling, xã Ia H, huyện Ia H thì Th đồng ý. Th điều khiển xe mô tô BKS 81M1-095.06 chở Th1 ngồi phía sau lưu thông theo hướng từ xã Ia Mr, huyện I chạy hướng thị xã Ayun P1. Khi đến đoạn Km401+990 đường Trường Sơn Đông đoạn thuộc bôn Trôk, xã Ia Tr, huyện I thì Th điều khiển xe mô tô đi bên phải đường, chạy tốc độ nhanh (theo lời khai của Th lúc này chạy tốc độ khoảng 70km/h), cách khoảng 03 mét thì Th nhìn thấy xe mô tô BKS 36C1-121.64 do Kpă H’L điều khiển chở theo Kpă H’Ph và Kpă S (là con trai của H’L) ngồi phía sau, lưu thông cùng chiều phía trước với Th (cách mép đường phải theo hướng từ xã Ia Mr đi thị xã Ayun P1 là 1,24m). Do khoảng cách gần, không kịp xử lý nên làm bánh trước xe mô tô do Th điều khiển tông vào ống xả thải và bánh xe phía sau bên phải xe mô tô BKS 36C1-121.64 do H’L điều khiển, làm Kpă H’Ph, Kpă H’L và Kpă S bị ngã xuống mương thoát nước bên phải đường và xe mô tô BKS 36C1-121.64 ngã nghiêng bên trái, nằm ngoài lề đường bên phải, còn Kpă Th và Nay Th ngã ra khoảng giữa đường, xe mô tô BKS 81M1-095.06 ngã nghiêng bên phải và nằm trên mặt đường. Hậu quả, Kpă H’Ph bị chết trên đường đi cấp cứu, H’L và Th được cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai đến ngày 09/12/2024 thì ra viện, S được cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Nhi tỉnh Gia Lai đến ngày 06/12/2024 thì ra viện, Th1 bị thương tích nhẹ.
Tại biên bản đo nồng độ cồn số 00628 ngày 23/11/2024, đối với Kpă Th kết quả đo được là 0,235 mg/l. Ngày 07/02/2025, Sở Giao thông vận tải tỉnh Gia Lai có Công văn số 294/SGTVT-QLVTPTNL cung cấp Kpă Th không có giấy phép lái xe theo quy định của pháp luật.
Tại biên bản đo nồng độ cồn số 00631 ngày 23/11/2024, đối với Kpă H’L kết quả đo được là 0,026 mg/l. Tại thời điểm xảy ra vụ việc trên Kpă H’L không có giấy phép lái xe theo quy định của pháp luật.
Do bị xây sát ngoài da nhẹ nên ngày 27/3/2025 Nay Th đã tự nguyện làm đơn xin từ chối giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể.
Sau khi tai nạn xảy ra, lúc 19 giờ 57 phút ngày 23/11/2024 các cơ quan chức năng đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, kết quả khám nghiệm hiện trường như sau:
Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông tại Km 401+990 đường Trường Sơn Đông đoạn thuộc bôn Trôk, xã Ia Tr, huyện I, tỉnh Gia Lai. Đoạn đường thẳng, mặt đường bằng phẳng, mặt đường được làm bằng bê tông nhựa rộng 5,60m, có vạch kẻ đường màu vàng, nét đứt ở giữa phân chia hai chiều xe chạy, mỗi phần đường rộng 2,80m, lề đường đất cấp phối hai bên, mỗi bên rộng 0,8m và sâu 0,8m, có hai biển báo hiệu W207B (biển giao nhau với đường không ưu tiên) được cắm trên lề đường bên trái theo hướng từ xã Ia Mr đi thị xã Ayun P1, có 02 biển hiệu W207B (biển giao nhau với đường không ưu tiên) được cắm trên lề đường bên phải theo hướng từ xã Ia Mr đi hướng thị xã Ayun P1, có hệ thống đèn chiếu sáng công cộng, tầm nhìn không bị che khuất.
- Mép đường chuẩn: Mép đường bên trái của mặt đường Trường Sơn Đông theo hướng từ xã Ia Mr đi hướng thị xã Ayun P1 làm chuẩn.
- Chiều hướng khám nghiệm hiện trường: Lấy chiều hướng từ xã Ia Mr đi hướng thị xã Ayun P1 làm chiều hướng khám nghiệm hiện trường.
- Mô tả khám nghiệm hiện trường:
+ Số (01) vết chà không rõ hình dạng nằm trên mặt đường bên phải theo chiều hướng khám nghiệm diện (19,5x0,03)m. Đầu vết cách mép đường chuẩn 4,70m và cách điểm mốc 24,10m, cuối vết cách mép đường chuẩn 5,60m, chiều hướng từ sau ra trước, từ trái sang phải theo hướng khám nghiệm hiện trường.
+ Số (02) vết cày không rõ hình dạng nằm trên lề đường bên phải theo hướng khám nghiệm có diện (0,55x0,03x0,01)m, đầu vết cách mép đường chuẩn 5,72m và cách cuối vết số 01 là 5,95m, cuối vết cách mép chuẩn 5,78m, chiều hướng từ sau ra trước, từ trái sang phải theo hướng khám nghiệm hiện trường.
+ Số (03) xe mô tô BKS 36C1-121.64 nằm ngoài lề đường và nằm ngã nghiêng bên trái theo hướng người điều khiển, lề đường phía bên phải theo chiều hướng khám nghiệm hiện trường, đầu xe hướng về thị xã Ayun P1, đuôi xe hướng về xã Ia Mr. Tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn 6,60m và cách cuối vết số 02 là 14,35m, tâm trục bánh trước cách mép chuẩn là 7,50m.
+ Số (04) vết chà không rõ hình dạng nằm trên mặt đường bên phải theo chiều hướng khám nghiệm diện (34,70x0,01)m. Đầu vết cách mép chuẩn 4,30m và cách đầu vết số 01 là 1,10m, cuối vết cách mép chuẩn 4,70m, chiều hướng từ sau ra trước từ trái sang phải theo hướng khám nghiệm hiện trường
+ Số (05) vết màu đỏ (nghi là máu) không rõ hình dạng nằm trên mặt đường diện (0,9x0,8)m. Tâm vết số 05 cách mép chuẩn 2,75m và cách cuối vết 04 là 2,1m.
+ Số (06) vị trí xe mô tô BKS 81M1-095.06 nằm trên mặt đường và nằm ngã nghiêng bên phải theo hướng người điều khiển cùng chiều với hướng khám nghiệm hiện trường, đầu xe hướng về thị xã Ayun P1, đuôi xe hướng về xã Ia Mr, tâm trục bánh trước cách mép đường chuẩn 4,35m và cách tâm vết 05 là 1,95m, tâm trục bánh sau cách mép chuẩn 5,0m.
+ Số (07) vết màu đỏ (nghi là máu) không rõ hình dạng nằm ngoài lề đường diện (0,15x0,10)m, tâm vết cách mép chuẩn 7,50m và cách tâm trục bánh sau xe số 06 là 3,80m.
+ Số (08) khu vực mảnh vỡ không rõ hình dạng nằm trên mặt đường diện (30x10,8)m, tâm vết 8 cách mép chuẩn 3,90m và cách tâm trục bánh trước xe số 06 là 0,47m.
Cơ quan điều tra đã tiến hành thực nghiệm điều tra theo sự chỉ dẫn, mô tả của Kpă Th, người liên quan, người làm chứng. Kết quả thực nghiệm điều tra phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường và các chứng cứ, tài liệu khác có tài hồ sơ vụ án.
* Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ án: Ngày 24/11/2024 Cơ quan chức năng đã khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ án, cụ thể:
- Xe mô tô BKS 81M1-095.06, nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, số máy G3D4E845216, số khung RLCUG1010JY0787 (có giấy đăng ký xe số 81004678 cấp ngày 09/5/2023, do Công an huyện I cấp; chủ xe: Kpă Th) sau tai nạn có các dấu vết sau: Ốp nhựa đầu đèn xe bị bung rời, mặt ngoài có bám dính chất màu vàng trong diện (20x18)cm, và vết trầy xước nhựa ở bên trái, chiều hướng từ phải sang trái, từ trên xuống dưới trong diện (20x02)cm; Gương chiếu hậu bên trái bị bể vỡ kính; Đầu tay lái bên trái bị mài mòn cao su trong diện (03x03)cm, chiều hướng từ phải sang trái; Đầu tay côn xe bên trái có vết mòn chà sáng kim loại diện (1,3x1,5)cm; Cụm đèn chiếu sáng phía trước bị bung rời khỏi vị trí định vị ban đầu; Mặt nạ trước đèn chuyển hướng hai bên, yếm nhựa chắn gió hai bên bị bể vỡ hoàn toàn; Cung chắn bùn trước có vết trầy xước nhựa diện (30x9,5)cm, chiều hướng từ trước ra sau; Phần dưới bộ phận lọc gió có vết trầy xước, mài mòn kim loại trong diện (8,5x0,5)cm; Hai phuộc nhún trước bị cong vênh đẩy lùi từ trước về sau, lệch 02 cm so với vị trí ban đầu; Bánh xe phía trước, lốp xì hơi, vành bánh xe bị bể vỡ, mất phần kim loại trong diện (35,5x5,5)cm, mặt ngoài lốp có vết chà mài mòn cao su; Gác để chân phía trước bên trái bị gãy chỉ còn kim loại kích thước (2,2 x0,5)cm. Đầu gác để chân phía sau bên trái có vết mài mòn, chà sáng kim loại diện (01x0,3)cm; Cần đạp sang số phía trước bị cong vênh đẩy lùi từ trước về sau, lệch 03 cm so với vị trí ban đầu, phần đầu có vết mài mòn, chà sáng kim loại diện (0,7x0,5)cm.
- Xe mô tô BKS 36C1-121.64, nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, số máy 5C6J006128, số khung RLCS5C6J0DY006102 (có giấy đăng ký xe số 173038640 cấp ngày 09/7/2013, do Công an tỉnh Thanh Hóa cấp; chủ xe: Hoàng Văn Thiết) sau tai nạn có các dấu vết sau: Cụm đèn chiếu sáng phía trước, đèn chuyển hướng hai bên, đồng hồ công tơ mét, nắp trước tay lái, nắp sau tay lái bị bể vỡ hoàn toàn; Gương chiếu hậu bên trái bị bể vỡ kính; Khung tay lái và chân gương chiếu hậu bên trái có vết mài mòn chà sáng kim loại, chiều hướng từ phải sang trái trong diện (35,5x10)cm; Cánh yếm chắn gió bên phải bị bung rời lệch 2,2cm so với vị trí định vị; Gác để chân phía trước bên trái bị cong vênh, đẩy lùi từ trước ra sau lệch 06cm so với vị trí ban đầu. Đầu gác để chân có dấu vết, mài mòn chà sáng kim loại, trong diện (01x01)cm; Ốp nhựa sườn xe bên trái bị bể vỡ, bung rời khỏi vị trí định vị; Ốp nhựa sườn xe bên phải bị bể vỡ, bung rời không còn trên xe; Phuộc nhún phía sau bên phải bị móp méo, cong vênh, theo hướng từ sau về trước trong diện (14x05)cm. Điểm thấp nhất và cao nhất cách mặt đất lần lượt là 28 cm và 39cm; Ống xả thải bị cong vênh, đẩy lệnh từ trái sang phải, mặt ngoài thân ống xả thải (phía hướng về phuộc nhún) có vết chà móp méo kim loại diện (12x6)cm, chiều hướng từ sau về trước, phần đuôi ống xả thải có bám dính cỏ, cây khô trong diện (08x03)cm; Ốp nhựa đuôi sau, đèn hậu, đèn chuyển hướng hai bên bị bể vỡ hoàn toàn; Biển số xe bị bể vỡ, cong vênh trong diện (20x15)cm; Dè chắn bùn sau bị cong vênh theo hướng từ phải sang trái lệch 05cm so với vị trí ban đầu; Bánh xe phía sau có nan hoa bị gãy, lốp xì hơi, vành kim loại bánh xe bị cong vênh, móp méo theo hướng từ phải sang trái trong diện (44x07)cm, mặt ngoài lốp xe có vết chà mài mòn cao su diện (50x03)cm; Cảng sau bị móp méo, cong vênh lệch 06cm so với vị trí ban đầu.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 1056/KLGĐTT-KTHS ngày 25/11/2024, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai kết luận: Nguyên nhân chết của Kpă H’Ph là: Chấn thương sọ não.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 44/KLTTCT-TTPY ngày 18/02/2025, của Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai kết luận:
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Kpă S tại thời điểm giám định là 49% (Bốn mươi chín phần trăm).
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 43/KLTTCT-TTPY ngày 19/02/2025, của Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai kết luận:
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Kpă H’L tại thời điểm giám định là 43% (Bốn mươi ba phần trăm).
Tại Bản Cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 05/6/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện I, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Kpă Th về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Gia Lai đề nghị:
Tuyên bố bị cáo Kpă Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị xử phạt:
Bị cáo Kpă Th từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
* Về vật chứng vụ án:
Cơ quan điều tra đã tạm giữ vật chứng gồm: 01 (một) xe mô tô BKS 36C1-121.64, nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, số máy 5C6J006128, số khung RLCS5C6J0DY0061, xe đã qua sử dụng, hư hỏng do tai nạn giao thông. Xe mô tô BKS 36C1-121.64 là tài sản chung của 02 vợ chồng ông Rcom Tơuk và bà Kpă H’Ph mua lại của anh Hoàng Văn Thiết (sinh năm 1969; cư trú tại thôn Trường Sơn 2, xã Tùng Lâm, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa) vào năm 2023; 01 (một) xe mô tô BKS 81M1-095.06, nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, số máy G3D4E845216, số khung RLCUG1010JY0787, xe đã qua sử dụng, hư hỏng do tai nạn giao thông, là tài sản của Kpă Th mua vào năm 2023 tại thị xã Ayun P1, tỉnh Gia Lai.
Xét thấy, việc trả lại các tài sản trên không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô BKS 36C1-121.64 cho ông Rcom Tơuk và trả lại xe mô tô BKS 81M1-095.06, nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, số máy G3D4E845216, số khung RLCUG1010JY0787 cho Kpă Th theo quy định, nên không đề cập đến.
* Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo Kpă Th và gia đình đã tự nguyện bồi thường tiền chi phí mai táng cho bà Kpă H’Ph là 95.500.000 đồng. Người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền cho gia đình bị hại bà Kpă H’Ph là ông Rcom Tơuk đã nhận đủ số tiền bồi thường và không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập đến.
Bị cáo Kpă Th cùng gia đình tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả tiền chi phí điều trị cho bị hại Kpă H’L và Kpă S tổng số tiền là 67.500.000 đồng, tại phiên toà bị hại Kpă H’L, người đại diện hợp pháp cho bị hại Kpă S là anh Nay Mã còn yêu cầu bị cáo Kpă Th bồi thường thêm số tiền 10.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo Kpă Th đồng ý mức bồi thường trên. Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo Kpă Th và bị hại Kpă H’L, người đại diện hợp pháp cho bị hại Kpă S là anh Nay Mã. Buộc bị cáo Kpă Th phải tiếp tục bồi thường cho bị hại chị Kpă H’L, Kpă S số tiền là 10.000.000 (Mười triệu) đồng.
Riêng đối với anh Nay Th do thương tích nhẹ nên không có yêu cầu bồi thường gì.
Ý kiến của bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại Kpă S: Đều nhất trí với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát về tội danh, điều, khoản, mức hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Khoảng 17 giờ 30 ngày 23/11/2024, Kpă Th (không giấy phép lái xe theo quy định, trong hơi thở có nồng độ cồn là 0,235 mg/L) điều khiển xe mô tô BKS 81M1-095.06 (có dung tích xi lanh 149,8cm3) lưu thông trên đường Trường Sơn Đông theo hướng từ xã Ia Mr, huyện I đi hướng thị xã Ayun P1. Khi đến đoạn Km401+990 đường Trường Sơn Đông, đoạn thuộc bôn Trôk, xã Ia Tr, huyện I thì Th điều khiển xe mô tô đi bên phải đường (theo hướng từ xã Ia Mr đi thị xã Ayun P1), cách khoảng 03 mét thì Th nhìn thấy xe mô tô BKS 36C1-121.64 do Kpă H’L điều khiển chở theo Kpă H’Ph và Kpă S ngồi phía sau, lưu thông theo hướng cùng chiều phía trước với Th (cách mép đường phải theo hướng từ xã Ia Mr đi thị xã Ayun P1 là 1,24m). Do khoảng cách gần, không kịp xử lý nên làm bánh trước xe mô tô do Th điều khiển tông vào ống xả thải và bánh xe phía sau bên phải của xe mô tô BKS 36C1-121.64 làm xe và chị H’L, bà H’Ph và cháu S ngã xuống mương nước ngay cạnh đường, còn Th và Th1 ngã xuống mặt đường. Hậu quả, làm bà Kpă H’Ph bị thương nặng và chết trên đường đi cấp cứu, nguyên nhân chết là chấn thương sọ não, chị Kpă H’L bị thương tích 43% (Bốn mươi ba phần trăm) và Kpă S bị thương tích 49% (Bốn mươi chín phần trăm), Kpă Th và Nay Th bị thương tích nhẹ.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ. Bị cáo điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe theo quy định, khi tham gia giam thông có sử dụng rượu, bia, không giữ khoảng cách an toàn với xe mô tô liền kề phía trước và thiếu chú ý quan sát nên tông vào xe mô tô do Kpă H’L điều khiển đi phía trước cùng chiều làm bà H’Ph chết, chị Kpă H’L bị thương tích 43% (Bốn mươi ba phần trăm) và Kpă S bị thương tích 49% (Bốn mươi chín phần trăm). Do vậy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Kpă Th đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ Luật Hình sự.
Hành vi làm chết 01 người và 02 người bị thương tổng tổn hại sức khỏe là 92% của bị cáo đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây tác động xấu đến trật tự an toàn chung tại địa phương. Vì vậy, bị cáo phải chịu hoàn toàn trách nhiệm do hành vi của bị cáo đã gây ra.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo cùng gia đình đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại Kpă H’Ph số tiền 95.500.000 đồng và tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu tiền chi phí điều trị cho bị hại Kpă H’L và Kpă S số tiền là 67.500.000 đồng. Bị hại và người đại diện hợp pháp cho bị hại đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với, Kpă H’L đi đúng phần đường quy định, không có lỗi liên quan, mối quan hệ nhân quả trong vụ tai nạn giao thông. Tuy nhiên, H’L có hành vi điều khiển xe mô tô mà trong hơi thở có nồng độ cồn (0,026 Mg/L) và không có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định nên Cơ quan điều tra Công an tỉnh Gia Lai đã chuyển tài liệu đến Phòng Cảnh sát giao thông - Trật tự Công an tỉnh Gia Lai để giải quyết theo quy định, nên không đề cập đến.
Đối với Kpă H’Ph có hành vi giao xe mô tô cho H’L điều khiển và khi mua bán xe mô tô chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Tuy nhiên, sau tai nạn thì bà H’Ph đã chết nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại chị Kpă H’L, người đại diện hợp pháp cho bị hại Kpă S là anh Nay Mã còn yêu cầu bị cáo Kpă Th phải bồi thường thêm số tiền 10.000.000 đồng. Bị cáo Kpă Th thống nhất và đồng ý tiếp tục bồi thường số tiền 10.000.000 đồng cho bị hại chị H’L, Kpă S. Xét thấy, việc thỏa thuận bồi thường nêu trên giữa bị cáo và bị hại chị Kpă H’L, người đại diện hợp pháp cho bị hại Kpă S là anh Nay Mã là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, tội danh, điều, khoản áp dụng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét thấy phù hợp với kết quả nghị án của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về ý kiến của bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp cho người bị hại và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp cho người bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[6 ] Về án phí: Bị cáo Kpă Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Kpă Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt:
Bị cáo Kpă Th 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ 01 (Một) bì thư niêm phong dán kín, có hình dấu niêm phong của Phân viện khoa học hình sự thành phố Đà Nẵng và chữ ký của Đỗ Văn Thành, Kpă Khoa.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/6/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai và Chi cục thi hành án dân sự huyện I, tỉnh Gia Lai).
Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586 và 590 Bộ luật Dân sự.
Ghi nhận sự tự nguyện, thoả thuận giữa bị cáo Kpă Th và bị hại Kpă H’L, người đại diện hợp pháp cho bị hại Kpă S là anh Nay Mã. Buộc bị cáo Kpă Th phải tiếp tục bồi thường các khoản tiền chi phí điều trị, tiền công lao động, chăm sóc, tàu xe đi lại, cấp cứu, tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho bị hại Kpă H’L, Kpă S tổng số tiền là 10.000.000 (Mười triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Kpă Th phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 05/8/2025). Để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo/ những người tham gia tố tụng; - TAND tỉnh Gia Lai; - Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh Gia Lai; - Công an tỉnh Gia Lai (PC10) - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai; - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Gia Lai; - Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai; - UBND xã Ia T, tỉnh Gia Lai. - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Viết Thịnh |