vanban.org

Bản án 04/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 20/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn T1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nông Văn T1 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giữ là ngày 09 tháng 10 năm 2024. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Văn T1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn T1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN LÃNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HS-ST
Ngày 20-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Liễu Thị Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Chu Thị Bời;

Ông Luân Văn Tuân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hồng Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Mã Thị Kim Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 103/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:

Nông Văn T1, sinh ngày 17 tháng 5 năm 1990 tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: Thôn N1, xã H1, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn H2 và bà Hoàng Thị N2; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tại Bản án số 17/2013/HSST ngày 16-4-2013 Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 22-01-2015, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị bắt, tạm giữ từ ngày 09-10-2024, tạm giam từ ngày 15-10-2024 đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nông Văn H2, sinh năm 1968; nơi cư trú: Thôn N1, xã H1, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

- Người chứng kiến: Anh Hoàng Văn T2; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 09-10-2024, Nông Văn T1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12V1–008.** đi từ nhà đến thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn với mục đích mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến khu vực chân cầu vượt thuộc thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, Nông Văn T1 dừng xe, gặp một người đàn ông khoảng 35 tuổi (không biết họ tên, địa chỉ) đang đứng cạnh đường. Nông Văn T1 tiến đến hỏi mua ma tuý tổng hợp với số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, người đàn ông đồng ý, nhận tiền và lấy từ trong người ra đưa lại cho Nông Văn T1 01 (một) gói giấy màu trắng loại giấy vệ sinh, bên trong có 02 (hai) túi zip bằng nilon màu trắng, bên trong các túi zip đều chứa các tinh thể màu trắng là chất ma tuý tổng hợp Methamphetamine. Nông Văn T1 nhận lấy số ma tuý trên cầm trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe đi về đến thôn H3, xã T3, huyện V, tỉnh Lạng Sơn thì bị tổ công tác Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và lập biên bản theo quy định.

Tổ công tác đã thu giữ của Nông Văn T1: 01 (một) gói giấy màu trắng loại giấy vệ sinh, bên trong có 02 (hai) túi zip bằng nilon màu trắng, bên trong các túi zip đều chứa các tinh thể màu trắng nghi là chất ma tuý tổng hợp được niêm phong trong 01 (một) phong bì có chữ "QT Nông Văn T1"; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX, biển kiểm soát 12V1-008.** (xe đã qua sử dụng); 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe số 0002**, biển kiểm soát 12V1

- 008.** mang tên Nông Văn H2.

Tại Kết luận giám định số 1079/KL-KTHS ngày 15-10-2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: “Các tinh thể màu trắng gửi giám định đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,422 gam (đã trừ bì)”.

Ngày 09-12-2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã ra quyết định xử lý vật chứng và ngày 10-12-2024 đã lập biên bản trả lại chiếc xe mô tô và giấy tờ xe cho ông Nông Văn H2.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, ông Nông Văn H2 khai: Ông là bố đẻ của Nông Văn T1; chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12V1-008.** là của ông mua bằng tiền riêng của mình, do ông thường xuyên quản lý, sử dụng; tối ngày 09-10-2024, xe để ở trong nhà; ông không có mặt ở nhà và không biết Nông Văn T1 sử dụng xe để đi mua ma túy; ông đã được trả lại xe và giấy tờ xe, ông không có yêu cầu gì. Anh Hoàng Văn T2 khai được chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang và niêm phong tang vật theo đúng quy định của pháp luật.

Tại Cáo trạng số 03/CT-VKSVL ngày 25-12-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nông Văn T1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như nội dung Cáo trạng đã truy tố; bị cáo thừa nhận bản thân tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật; chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX, biển kiểm soát 12V1-008.** là của bố bị cáo là ông Nông Văn H2; ông Nông Văn H2 không biết bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy, cơ quan điều tra đã trả lại xe máy và giấy đăng ký xe cho ông Nông Văn H2; bị cáo nhất trí không có ý kiến gì.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nông Văn T1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nông Văn T1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy phong bì chứa ma túy còn lại sau giám định và các vỏ bao gói; bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 09-10-2024, tại thôn H3, xã T3, huyện V, tỉnh Lạng Sơn tổ công tác Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn phát hiện bắt quả tang Nông Văn T1 đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,422 gam chất ma túy Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của những người tham gia tố tụng, phù hợp với vật chứng đã thu giữ được, Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nông Văn T1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội thấy rằng: Hành vi mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân gián tiếp gây ra tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Bản thân bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy đối với bản thân và xã hội, nhưng chỉ vì để có ma túy thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã bất chấp pháp luật và dư luận xã hội, để thực hiện hành vi phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về nhân thân: Bị cáo đã bị kết án và đã được xoá án tích, bị cáo sử dụng ma túy từ năm 2012, sau khi chấp hành án xong ra tù, đến năm 2021 lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, điều này cho thấy bị cáo thiếu tu dưỡng bản thân.

Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết xử phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo biên bản xác minh ngày 28-11-2024 của cơ quan điều tra và qua xét hỏi công khai tại phiên tòa sơ thẩm thấy rằng: Bị cáo không có thu nhập ổn định; không có tài sản riêng có giá trị, bản thân nghiện ma túy; vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong một phong bì và toàn bộ các vỏ bao gói, là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật không sử dụng được. Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12V1-008.** là tài sản của ông Nông Văn H2, ông không biết bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy, cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe và giấy chứng nhận đăng ký xe cho ông Nông Văn H2 là phù hợp với quy định.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại; vấn đề dân sự trong vụ án hình sự: Không có yêu cầu nên không xem xét.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, xử lý vật chứng và án phí phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết họ tên, địa chỉ, cơ quan điều tra không làm rõ được nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người bị kết án phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ vào điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn T1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nông Văn T1 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giữ là ngày 09 tháng 10 năm 2024.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong có chữ “QT Nông Văn T1”; bên trong có: 01 (một) gói giấy đựng 0,371 gam chất ma túy Methamphetamine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và toàn bộ các vỏ bao gói (cũ), gồm 01 (một) vỏ gói giấy, 02 (hai) vỏ túi nilon.

(Vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25-12-2024).

4. Về án phí: Bị cáo Nông Văn T1 phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ