vanban.org

Bản án 04/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 21/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn T phạm tội: “Đánh bạc”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Phan Văn T. Xử phạt: Bị cáo Phan Văn T 09 (chín) tháng tù, nhưng cho bị cáo Phan Văn T được hưởng án treo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn T phạm tội: “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN W
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HS-ST
Ngày 21 - 01 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN W, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hùng Nuôi.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Hiệp.

2. Bà Nguyễn Hồng Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện W, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện W, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Bưởi – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện W, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 51/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:

Phan Văn T, sinh ngày 09/01/1958; tại huyện O, tỉnh Sóc Trăng. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp Q, xã E, huyện O, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: Lớp 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn Ngh (Chết) và bà Lâm Thị B (Chết); bị cáo có vợ là bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1969 (đã ly hôn) và có ba người con lớn nhất sinh năm 1979 và nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 29/12/2023 có hành vi đánh bạc trái phép; bị Công an xã E, huyện O, tỉnh Sóc Trăng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04/QĐ-XPHC ngày 03/01/2024 với số tiền 1.500.000 đồng; chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 05/03/2024 (Chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay. (Bị cáo có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1992; (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp R, thị trấn W, huyện W, tỉnh Sóc Trăng.

2. Ông Mai Văn H1, sinh năm 1996; (có mặt)

3. Ông Trần Văn C, sinh năm 1986; (vắng mặt)

4. Ông Trần Thanh S, sinh năm 1987; (vắng mặt)

5. Ông Ngô Thành A, sinh năm 1977; (vắng mặt)

6. Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1983; (có mặt)

7. Ông Dương Quốc Đ, sinh năm 1988; (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp Y, thị trấn W, huyện W, tỉnh Sóc Trăng.

- Người tham gia tố tụng khác:

* Người làm chứng: Ông Nguyễn Trường G, sinh năm 1979; (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Y, thị trấn W, huyện W, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Văn T là người đã có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền, đã bị Công an xã E, huyện O, tỉnh Sóc Trăng ra xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép theo Quyết định số 04/QĐ-XPHC vào ngày 03/01/2024, Phan Văn T chấp hành việc đóng phạt xong vào ngày 05/03/2024, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng lại tiếp tục có hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền cụ thể như sau:

Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 28/02/2024 sau khi được thăm khám tại Trung tâm y tế huyện W, tỉnh Sóc Trăng (Phan Văn T đang điều trị nội trú tại đây) thì Phan Văn T đã đi về nhà người quen ở ấp Y, thị trấn W, huyện W, tỉnh Sóc Trăng để nghỉ ngơi. Đến khoảng 10 giờ 50 phút cùng ngày, Phan Văn T nhìn thấy tại khu đất trống trong khuôn viên nhà của ông Mai Văn H1 cách nhà người quen của Phan Văn T khoảng 10 mét có tổ chức chơi đá gà ăn tiền, nên Phan Văn T đi đến nhằm mục đích chơi đá gà ăn tiền. Khi đến thì Phan Văn T nhìn thấy con gà đều vàng (màu lông vàng đen) của chủ gà là Nguyễn Văn H đang được thả ra chuẩn bị đá với con gà đều đỏ (màu lông đỏ xanh đen) của một người thanh niên (không xác định được nhân thân lai lịch). Nên Phan Văn T và ông Mai Văn H1 có hứa hẹn cá cược bên ngoài với nhau (đá hàng sáo) không thông qua chủ gà, độ gà nói trên với số tiền là 200.000 đồng, trong đó Phan Văn T bắt con gà đều đỏ, còn ông Mai Văn H1 bắt con đều vàng. Khi độ gà đang diễn ra chưa có kết quả thắng thua thì lúc này bị lực lượng Công an huyện W phát hiện, tiến hành lập biên bản về việc tham gia chơi đá gà ăn tiền tại khu đất trống gồm ông Mai Văn H1, Phan Văn T và một số người khác gồm: Nguyễn Văn H; Ngô Thành A; Trần Thanh S; Trần Văn C; Phạm Văn T1; Dương Quốc Đ; Nguyễn Trường G. Đồng thời thu giữ tại hiện trường các tang vật phục vụ cho việc đánh bạc gồm: 02 (hai) con gà trống đá đang mang cựa sắt; 03 (ba) cặp cựa bằng kim loại, đã qua sử dụng trong đó 02 (hai) cặp đang được băng trên 02 (hai) con gà; 01 (một) cân đồng hồ nhãn hiệu Nhơn Hòa, loại 05kg, màu xanh đã qua sử dụng.

Quá trình điều tra Phan Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Đối với những người còn lại có tham gia chơi đá gà ăn tiền, quá trình điều tra Cơ quan CSĐT đã làm rõ hành vi và số tiền dùng vào mục đích đánh bạc của từng đối tượng cụ thể như sau:

1. Ông Mai Văn H1: Thừa nhận địa điểm khu đất trống nơi diễn ra hành vi đá gà ăn thua bằng tiền là của mình trực tiếp quản lý. Tuy nhiên quá trình các con bạc chơi đá gà ăn tiền trong khuôn nhà của ông Mai Văn H1 thì Hậu không có thu tiền xâu, cũng như lợi ích gì khác mà do bản thân ông Mai Văn H1 cũng chơi đá gà nên cho những người khác vào tham gia. Quá trình làm việc thì ông Mai Văn H1 có thừa nhận hứa hẹn cá cược với Phan Văn T 01 (một) độ gà với số tiền 200.000 đồng tuy nhiên chưa có kết quả thắng thua thì bị công an phát hiện, khi phát hiện thì mới có tiến hành đá 01 độ gà duy nhất.

2. Ông Nguyễn Văn H: Thừa nhận mang theo gà đều vàng đến địa điểm nhà ông Mai Văn H1 để tham gia đá gà ăn tiền. Cụ thể số tiền ông Nguyễn Văn H hứa hẹn cá cược với người thanh niên không rõ họ tên, là chủ gà đều đỏ với số tiền là 1.000.000 đồng tuy nhiên chưa có kết quả thắng thua thì bị phát hiện. Trong số tiền 2.460.000 đồng mang theo thì ông Nguyễn Văn H chỉ thừa nhận sẽ sử dụng số tiền 1.000.000 đồng để tham gia cá cược, riêng số tiền còn lại thì không có sử dụng vào mục đích đánh bạc.

3. Ông Trần Văn C: Thừa nhận có tham giá đá gà ăn thua bằng tiền với số tiền cược là 200.000 đồng với 01 người thanh niên lạ mặt (đá hàng sáo không thông qua chủ gà) nhưng chưa có kết quả thì bị công an phát hiện. Trong số tiền 215.000 đồng mang theo thì ông Trần Văn C chỉ thừa nhận dùng để mua thức ăn cho vịt, sẽ không dùng để đánh bạc.

4. Ông Trần Thanh S: Thừa nhận tham gia cá cược đá gà ăn thua bằng tiền với một người lạ mặt số tiền là 100.000 đồng (đá hàng sáo không thông qua chủ gà) nhưng chưa có kết quả thì bị công an phát hiện. Đối với số tiền 300.000 đồng mang theo thì chỉ sử dụng 100.000 đồng vào mục đích đánh bạc.

5. Ông Ngô Thành A: Thừa nhận tham gia cá cược đá gà ăn thua bằng tiền bằng hình thức hùn tiền đá xổ với người thanh niên lạ mặt là chủ gà đều đỏ số tiền là 100.000 đồng nhưng chưa có kết quả thì bị công an phát hiện và thu giữ tiền trên người là 100.000 đồng.

6. Ông Phạm Văn T1: Thừa nhận tham gia cá cược đá gà ăn thua bằng tiền với một người lạ mặt số tiền là 100.000 đồng (đá hàng sáo không thông qua chủ gà) nhưng chưa có kết quả thì bị công an phát hiện. Đối với số tiền 1.350.000 đồng mang theo thì chỉ sử dụng 100.000 đồng vào mục đích đánh bạc.

7. Ông Dương Quốc Đ: Thừa nhận tham gia cá cược đá gà ăn thua bằng tiền với một người lạ mặt số tiền là 100.000 đồng (đá hàng sáo không thông qua chủ gà) nhưng chưa có kết quả thì bị công an phát hiện nên ông Dương Quốc Đ bỏ chạy và quăng bỏ số tiền mang theo là 100.000 đồng.

Riêng đối với Nguyễn Trường G qua làm việc không thừa nhận có mặt tại địa điểm đánh bạc nói trên mà do hiếu kỳ thấy tập trung đông người đá gà nên đến xem, không có tham gia cá cược với ai.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ, hiện còn quản lý gồm: 03 cặp cựa bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 (một) cân đồng hồ nhãn hiệu Nhơn Hòa, loại 05kg, màu xanh đã qua sử dụng; Tiền việt nam 3.543.000 đồng của Phan Văn T. Đối với 02 (hai) con gà trống tạm giữ trong quá trình kiểm tra, do đã chết nên đã tiến hành tiêu hủy tại chỗ. Riêng đối với số tiền Việt Nam đã thu giữ của các người liên quan đã được chuyển để xử lý theo thủ tục hành chính nên không đưa vào xem xét trong vụ án.

* Tại Cáo trạng số 49/CT-VKSMX ngày 19 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện W, tỉnh Sóc Trăng truy tố: Bị cáo Phan Văn T về tội “Đánh bạc”, quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

* Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận Cáo trạng số 49/CT-VKSMX ngày 19 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện W, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố đối với bị cáo Phan Văn T về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo; xử phạt bị cáo Phan Văn T từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo với thời gian thử thach từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bố sung năm 2021); điểm a, b khoản 1 và 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tịch thu nộp sung quỹ nhà nước số tiền 200.000 đồng. Tịch thu tiêu hủy 03 cặp cựa bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 (một) cân đồng hồ nhãn hiệu Nhơn Hòa, loại 05kg, màu xanh đã qua sử dụng. Trả lại cho bị cáo Phan Văn T số tiền 3.352.000 đồng.

- Bị cáo Phan Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

* Bị cáo Phan Văn T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu; không có ý kiến tranh luận; lời nói sau cùng xin hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định vụ án:

[I] Về tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên và Kiểm sát viên tiến hành các hoạt động Điều tra, Truy tố đúng thẩm quyền, đúng theo trình tự thủ tục và quy định của pháp luật về tố tụng hình sự. Tại phiên toà, bị cáo Phan Văn T xác nhận trong quá trình tố tụng các cơ quan và người tiến hành tố tụng thực hiện đúng theo quy định, nên bị cáo không có ý kiến, khiếu nại. Do vậy, các hoạt động Điều tra, Truy tố của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên và Kiểm sát viên là hợp pháp và đúng luật định.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ôngNguyễn Văn H, ông Trần Văn C, ông Trần Thanh S, ông Ngô Thành A, ông Dương Quốc Đ và người làm chứng ông Nguyễn Trường G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Xét thấy, người làm chứng đã có lời khai trong quá trình điều tra, việc vắng mặt tại phiên không gây trở ngại và ảnh hưởng cho việc xét xử, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bố sung năm 2021) tiến hành xét xử vụ án.

[II] Về nội dung:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Phan Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố; xác nhận các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm là tự nguyện, đúng với hành vi khách quan mà bị cáo đã thực hiện trong vụ án.

Xét thấy, lời khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định: Phan Văn T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân đã có 01 tiền sự, bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc trái phép chưa hết thời gian được coi là chưa bị xử phạt hành chính. Vào khoảng 10 giờ 50 phút ngày 28/02/2024, Phan Văn T tiếp tục có hành vi tham gia đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền tại khu đất trống trong khuôn viên nhà của ông Mai Văn H1 thuộc ấp Y, thị trấn W, huyện W, tỉnh Sóc Trăng, dưới hình thức cá cược đá gà với ông Mai Văn H1, với số tiền cược là 200.000 đồng, khi độ gà đang diễn ra thì bị Công an huyện W phát hiện, lập biên bản về hành vi đánh bạc.

Bị cáo Phan Văn T là người có có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền là một tệ nạn xã hội và nguyên nhân dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật khác, nên Nhà nước đấu tranh ngăn chặn và pháp luật nghiêm cấm, người nào có hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền là vi phạm pháp luật và sẽ bị pháp luật trừng trị.

Mặc dù, bị cáo nhận thức được điều này nhưng với bản chất xem thường pháp luật và muốn thỏa mãn nhu cầu cá nhân, với động cơ tham lam, hưởng lợi từ việc đánh bạc nên bị cáo đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, đã chấp hành xong quyết định xử phạt nhưng chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, nay bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền dưới hình thức cá cược đá gà với số tiền cược là 200.000 đồng, hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yêu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), nên bị cáo có tội và phải chịu trách nhiệm hình sự.

Bị cáo phạm tội lần này, tuy số tiền được thua bằng tiền là 200.000đồng (dưới 5.000.000 đồng) nhưng bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này, chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm, nên hành vi phạm tội của bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự, hình phạt về tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Do đó, tại Cáo trạng số 49/CT-VKSMX ngày 19 tháng 11 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện W, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Phan Văn T về phạm tội “Đánh bạc”, quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét thấy, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng đến an ninh trật tự địa phương, gây dư luận xấu trong xã hội và gây bất bình của người dân tại địa phương. Bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, đúng ra bị cáo phải từ bỏ, nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi đã vi phạm là thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo. Đồng thời, loại tội phạm về đánh bạc và tổ chức đánh bạc có chiều hướng tăng, nhằm răng đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội, đối với bị cáo cần phải xử phạt nghiêm, để bị cáo có thời gian học tập, cải tạo trở thành công dân tốt có ích cho xã.

Tuy nhiên, trong lượng hình Hội đồng xét xử cũng có lưu tâm xem xét đến nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi áp dụng hình phạt. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên đây là các tình tiết thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đồng thời, bị cáo Phan Văn T có thân nhân người anh ruột Phan Văn Thảo là liệt sỹ; ông nội là Phan Văn Cáo và cha ruột là Phan Văn Nghi được nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), nên trong lượng hình Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt cho bị cáo.

Do đó, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ nêu trên để giảm nhẹ một phần hình phạt, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Phan Văn T là có cơ sở; về hình phạt đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù là tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét thấy, bị cáo Phan Văn T về nhân thân tuy “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” và chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, nhưng đã sử dụng tình tiết “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” khi định tội; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiện hình sự quy định tại khoản 1 (02 tình tiết) và 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo ăn năn hối lỗi và có khả năng tự học tập, cải tạo trở thành công dân tốt có ích cho xã; nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, để bị cáo chịu sự quản lý, giáo dục trực tiếp của cơ quan pháp luật; bị cáo ở ngoài xã hội cũng không gây nguy hại và cũng không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; bị cáo có đủ các điều kiện theo hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo (sửa đổi, bổ sung năm 2022). Mặt khác, hiện tại bị cáo đang bị bệnh, theo Kết luận giám định pháp y số 362 ngày 29/7/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Sóc Trăng tuy bị cáo không mắc bệnh hiểm nghèo nhưng mắc các bệnh tăng huyết áp giai đoạn 1; rối loạn chức năng tâm trương trái thất E/A<1, hở van 3 lá ¼; trào ngược dạ dày thực quản độ A (LA), viêm sung huyết hang vị mức vừa; đái tháo đường không phụ thuộc insulin; có khả năng gây nguy hiểm đến tính mạng; với tỷ lệ tổn thương cơ thể do bệnh tật gây nên là 72% (Bảy mươi hai phần trăm) nên việc bị cáo đi chấp hành hình phạt tù sẽ có khả năng nguy hại đến tính mạng. Do đó, Kiểm sát viên đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo và bị cáo xin được hưởng án treo là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 200.000 đồng dùng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu nộp, sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với 03 cặp cựa bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 (một) cân đồng hồ nhãn hiệu Nhơn Hòa, loại 05kg, màu xanh đã qua sử dụng là công cụ dùng vào việc phạm tội và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 3.352.000 đồng của Phan Văn T không dùng vào việc đánh bạc nên cần trả lại cho Phan Văn T.

Đối với các vật chứng còn lại đã được xử lý xong trong giai đoạn điều tra, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bố sung năm 2021) và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phan Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Mai Văn H1, Nguyễn Văn H, Ngô Thành A, Trần Thanh S, Trần Văn C, Phạm Văn T1 và Dương Quốc Đ thì quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện W xác định các đối tượng có tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền nhưng số tiền cá cược chưa đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự và các người liên quan này chưa có tiền án tiền sự nên hành vi không cấu thành tội phạm. Do đó, Công an huyện W đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng theo quy định là có căn cứ.

Đối với ông Nguyễn Trường G có mặt tại thời điểm bắt quả tang, tuy nhiên, quá trình điều tra thì không thừa nhận tham gia đánh bạc, ngoài ra cũng không có căn cứ khác chứng minh có tham gia đánh bạc, nên chưa đủ căn cứ để xử lý cùng về hành vi đánh bạc. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện W không đặt ra xem xét xử lý đối với Nguyễn Trường G là có căn cứ.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn T phạm tội: “Đánh bạc”.

2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Phan Văn T.

- Xử phạt: Bị cáo Phan Văn T 09 (chín) tháng tù, nhưng cho bị cáo Phan Văn T được hưởng án treo.

+ Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/01/2025). Giao bị cáo Phan Văn T cho UBND xã E, huyện O, tỉnh Sóc Trăng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách và gia đình bị cáo Phan Văn T có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục. Trường hợp bị cáo Phan Văn T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.

+ Trong thời gian thử thách bị cáo Phan Văn T cố ý vi phạm nghĩa vụ (quy định tại Điều 87 Luật Thi hành án Hình sự) 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Phan Văn T phải chấp hành hình phạt tù.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bố sung năm 2021); điểm a, b khoản 1 và 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tịch thu nộp sung quỹ nhà nước số tiền 200.000 đồng. Tịch thu tiêu hủy 03 cặp cựa bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 (một) cân đồng hồ nhãn hiệu Nhơn Hòa, loại 05kg, màu xanh đã qua sử dụng. Trả lại cho bị cáo Phan Văn T số tiền 3.352.000 đồng.

(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện W, tỉnh Sóc Trăng đang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21 tháng 11 năm 2024).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bố sung năm 2021) và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phan Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật) để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ