vanban.org

Bản án 04/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Tuyên án 06/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Doãn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Doãn Văn S 33 (Ba mươi ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/10/2024. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Doãn Văn S - Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Doãn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÝ NHÂN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HS-ST
Ngày: 06/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Thành Nam.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hải Hà và ông Phạm Quốc Tuấn.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Thành Trung - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Trần Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 109/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2024 và văn bản thay đổi kiểm sát viên số 01/CV-VKS-LN ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, đối với bị cáo:

Doãn Văn S, sinh năm 1976 tại Hà Nam; nơi cư trú: Thôn L, xã L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Doãn Cát S1 và bà Nguyễn Thị N (đều đã chết); có vợ là Vũ Thị H và có 02 con; tiền sự: Không;

- Tiền án: Ngày 19/9/2014, Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý xử phạt 04 năm tù về tội “Lưu hành tiền giả". (Chưa chấp hành xong án phí hình sự, dân sự sơ thẩm, hình phạt bổ sung).

- Tiền sự: Không.

- Nhân thân:

+) Ngày 21/07/2011, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T ra Quyết định đưa người nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc, thời hạn 24 tháng;

+) Ngày 12/10/2018 Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xử phạt 15 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Ngày 26/01/2020, Doãn Văn S chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương, ngày 06/9/2024, chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án;

+) Ngày 28/02/2024, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, hình thức phạt “Cảnh cáo”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/10/2024 đến ngày 30/10/2024 chuyển tạm giam đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Doãn Văn Đ, sinh năm 1978; nơi cư trú: Thôn L, xã L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn H1; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 50 phút ngày 24/10/2024, Công an thị trấn V, huyện L, tỉnh Hà Nam phối hợp với Công an xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên địa bàn thôn P, xã H, huyện L phát hiện Doãn Văn S điều khiển xe môtô biển kiểm soát 90H8-0483 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện trong lòng bàn tay trái của S đang cầm 01 gói giấy báo in mặt ngoài màu hồng trắng mở ra bên trong có chất bột màu trắng dạng cục. Tại chỗ, S khai là ma túy vừa mua được mục đích để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Doãn Văn S và thu giữ: 01 gói giấy báo in mặt ngoài màu hồng trắng bên trong có chất bột màu trắng dạng cục được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT”; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS, màu đỏ - đen - bạc, biển kiểm soát 90H8-0483 sau đó làm thủ tục bàn giao Doãn Văn S cùng vật chứng đã thu giữ, niêm phong và tài liệu có liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra (Sau đây viêt tắt là CSĐT) - Công an huyện L để điều tra, giải quyết theo thẩm quyền.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Doãn Văn S, Cơ quan điều tra không thu giữ tài liệu, đồ vật gì liên quan đến vụ án.

Tại bản Kết luận giám định số 855/KL-KTHS ngày 28/10/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,169g (Không phẩy một trăm sáu mươi chín gam), loại: Heroine.

Về nguồn gốc chất ma túy đã thu giữ, theo Doãn Văn S khai: Khoảng 12 giờ ngày 24/10/2024, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 90H8-0483 một mình đi đến khu vực cổng chợ P thuộc địa phận xã H, huyện L để tìm mua ma túy về sử dụng, tại đây gặp và mua của một đối tượng nam giới khoảng 40 tuổi (không biết nhân thân, lai lịch) 01 gói ma túy gói bằng giấy báo in mặt ngoài màu hồng trắng với số tiền 200.000 đồng. Sau đó cầm gói ma túy trên tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi tìm chỗ sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.

Về vật chứng vụ án:

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS, màu đỏ - đen - bạc, biển kiểm soát 90H8-0483, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Doãn Văn Đ (em trai Doãn Văn S), sinh năm 1978, trú tại thôn L, xã L, thành phố P, anh Đ cho S mượn xe nhưng không biết việc S mượn chiếc xe trên để đi tìm mua ma túy. Cơ quan CSĐT - Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe trên cho anh Đ.

Đối với số ma tuý loại Heroine được niêm phong trong phong bì số: 855/KTHS, mặt trước phong bì có ghi “Mẫu vật hoàn trả QT” do Cơ quan giám định hoàn trả sau giám định là vật chứng của vụ án và là chất cấm do Nhà nước độc quyền quản lý. Tất cả vật chứng, đồ vật, tài sản trên đều được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân.

Quá trình điều tra: Doãn Văn S đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện.

Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKSLN ngày 09/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, truy tố Doãn Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Doãn Văn S từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đồng thời đề xuất hướng xử lý vật chứng hiện đang thu giữ và án phí vụ án.

- Bị cáo Doãn Văn S khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân đã truy tố; không có ý kiến tranh luận, bào chữa hay khiếu nại gì và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Doãn Văn Đ trình bày: Anh Đ có cho Doãn Văn S mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS, màu đỏ - đen - bạc, biển kiểm soát 90H8-0483 nhưng không biết việc S mượn chiếc xe trên để đi tìm mua ma túy. Cơ quan CSĐT - Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô trên cho anh Đ. Nay anh Doãn Văn Đ cho rằng mình đã nhận được xe mô tô có biển kiểm soát trên nên không có đề nghị gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, khách quan.

[2] Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên toà nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu được, kết luận giám định về ma tuý và các tài liệu, chứng cứ khác lưu trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 50 phút ngày 24/10/2024, tại thôn P, xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam; Doãn Văn S đang cất giữ trái phép 0,169 gam ma túy, loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác Công an thị trấn V phối hợp với Công an xã H, huyện L, phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của bị cáo Doãn Văn S đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo là có căn cứ đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, có tiền án về tội “Lưu hành tiền giả"; đã bị kết án về tội “Đánh bạc”; bị đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc và bị xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” nhưng đã được xoá.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị kết án tội “Lưu hành tiền giả", chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa Doãn Văn S đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, đồng thời thể hiện sự ăn năn hối cải trước pháp luật; có bố đẻ là ông Doãn Cát S1 là thương binh hạng A - Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt:

- Về hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể cải tạo được bị cáo, đồng thời có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo yên tâm chấp hành án, sớm hoà nhập cộng đồng xã hội, đồng thời cũng thấy được tính nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội.

- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội không nhằm mục đích thu lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Điều 35 và khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS, màu đỏ - đen - bạc, biển kiểm soát 90H8-0483, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Doãn Văn Đ (em trai Doãn Văn S), anh Đ cho S mượn xe nhưng không biết việc S mượn chiếc xe trên để đi tìm mua ma túy. Cơ quan CSĐT - Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe trên cho anh Đ là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật.

Đối với số ma tuý loại Heroine được niêm phong trong phong bì số 855/KTHS, mặt trước ghi là "Mẫu vật hoàn trả QT" là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu và tiêu huỷ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng đã bán ma tuý cho Doãn Văn S như S đã khai. Do chỉ có duy nhất lời khai của bị cáo và thông tin không đầy đủ, ngoài ra không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh, nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện L không có căn cứ điều tra, xác minh làm rõ để xử lý về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Doãn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Doãn Văn S 33 (Ba mươi ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/10/2024.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu và tiêu huỷ: Số ma tuý loại Heroine được niêm phong trong phong bì số 855/KTHS, mặt trước ghi là "Mẫu vật hoàn trả QT”.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện L với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân ngày 11/12/2024).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Doãn Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ