vanban.org

Bản án 04/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 17/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt:Bị cáo Đỗ Văn H 01 năm 06 tháng tù nhưng hưởng án treo về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách là 03 năm tính từ ngày tuyên bản án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt:Bị cáo Đỗ Văn H 01 năm 06 tháng tù nhưng hưởng án treo về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách là 03 năm tính từ ngày tuyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN LỤC NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 04/ 2025/ HS- ST
Ngày 17/01/2025

NHÂNDANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiên.

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Chung

Ông Nguyễn Văn Chấn.

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Văn Huân- Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh- Kiểm sát viên.

Ngày 17/01/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 137/2024/HSST ngày 30 tháng 12 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/ HSST- QĐ ngày 06/01/2025 đối với bị cáo Đỗ Văn H, sinh năm 1988; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; HKTT và nơi ở: Thôn S, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Sán Dìu . Tôn Giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do. Trình độ học vấn: 07/12; Bố đẻ: Đỗ Văn L, sinh năm 1965;Mẹ đẻ: Hoàng Thị L1, sinh năm 1963; Vợ: Leo Thị L2, sinh năm 1989; Bị caó có 03 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị caó không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/12/2024 đến nay, tại ngoại.( Có mặt ).

2.Bị hại: Anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1996( Đã chết).

- Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1962

Cùng cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang ( Vắng mặt ).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Leo Văn G, sinh năm 1983( Có mặt). Nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ 50 phút ngày 07/7/2024, Đỗ Văn H có giấy phép lái xe ô tô hạng B2, điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 21H-3832 đi trên đường Q theo hướng huyện L đi huyện L. Khi đi đến Km25 thuộc địa phận thôn Đ, xã T, huyện L, H điều khiển xe chuyển hướng vào đường nhánh bên phải để vào thôn Đ, xã T, huyện L. Khi chuyển hướng, H không chú ý quan sát, không giảm tốc tộ, chuyển hướng không đảm bảo an toàn đã xảy ra va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 98M1-201.01 do anh Nguyễn Xuân T điều khiển. Hậu quả làm anh T bị tử vong vào ngày 09/7/2024. * Sau khi vụ việc xảy ra, Công an huyện L đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, tiến hành khám tử thi, khám nghiệm phương tiện, dựng lại hiện trường để làm rõ nguyên nhân vụ tai nạn.

Ngày 09/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định nguyên nhân chết của Nguyễn Xuân T qua hồ sơ bệnh án. Tại kết luận giám định số 1763/KLGĐTT-KTHS ngày 09/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:

- Nguyên nhân chết của Nguyễn Xuân T chấn thương sọ não: Vỡ xương hộp sọ, tụ máu nội sọ, xuất huyết dưới nhện.

- Cơ chế hình thành dấu vết trên cơ thể Nguyễn Xuân T: Tổn thương sưng nề, bầm tím, sây sát da được hình thành do tác động với vật tày, có các hình dạng và diện tiếp xúc khác nhau, theo nhiều chiều hướng tạo nên, trong đó tổn thương bầm tím, sây sát da vùng đỉnh - chẩm phải do tiếp xúc với vật tày, lực tác động mạnh làm vỡ xương hộp sọ, máu tụ nội sọ, xuất huyết dưới nhện là nguyên nhân tử vong của Nguyễn Xuân T .

Ngày 10/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định chất ma túy có trong mẫu máu thu giữ của nạn nhân Nguyễn Xuân T. Tại kết luận giám định số 5293/KL-KTHS ngày 19/7/2024 của V1 Bộ C, kết luận: Không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy trong mẫu máu ghi thu của Nguyễn Xuân T gửi giám định .

Ngày 22/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định video trong vụ tai nạn giao thông trên. Tại kết luận số 1644/KL-KTHS ngày 26/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:

- Tại thời điểm 16 giờ 52 phút 08 giây ngày 07/7/2023 quan sát thấy 02 (hai) phương tiện va chạm nhau ở trên mặt đường thuộc phần đường phần đường bên phải theo hướng di chuyển của hai phương tiện (có vạch kẻ đường nét đứt màu trắng phân chia phần đường).

- Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 21H - 3832 và xe mô tô biển kiểm soát 98M1 - 201.01 trên mặt đường, trong diện dấu vết mảnh nhựa vỡ kí hiệu V, thuộc chiều phương tiện chuyển động bên phải theo hướng huyện L đi huyện L.

- Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học .

Như vậy căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường và dựng lại hiện trường, biên bản khám nghiệm xe mô tô, ô tô, kết luận giám định, lời khai của Đỗ Văn H xác định nguyên nhân chính dẫn đến vụ tai nạn giao thông đường bộ nêu trên là do Đỗ Văn H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 21H-3832 tham gia giao thông khi đến khu vực đường giao nhau không chú ý quan sát, chuyển hướng không đảm bảo an toàn đã vi phạm vào khoản 23 Điều 8 và khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, Đỗ Văn H đã bồi thường cho gia đình nạn nhân Nguyễn Xuân T số tiền 230.000.000 đồng. Đại diện gia đình nạn nhân đã nhận số tiền trên và không có yêu cầu bồi thường gì thêm, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho H.

Vật chứng thu giữ và việc xử lý: Ngày 22/11/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện L đã xử lý vật chứng trả lại cho anh Leo Văn G 01 xe ô tô BKS 21H-3832, 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô số 001767 mang tên Lâm Thảo N, 01 giấy chứng nhận kiểm định, anh G đã nhận lại xe và tài sản, không có ý kiến gì. Trả lại xe mô tô BKS 98M1-201.01, 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Hoàng Văn V, 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Xuân T cho ông Nguyễn Văn B.

Đối với 01 (một) Giấy phép lái xe mang tên Đỗ Văn H, Cơ quan điều tra chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam để xử lý .

Cáo trạng số 05/ CT- VKS ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố Đỗ Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tại điểm a khoản 1Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tò

ậ

ố bị cáo là đúng người, đúng diễn biến hành vi phạm tội, đúng quy định pháp luật, không oan. Do thỏa thuận lái xe thuê cho anh Leo Văn G nên khoảng 16 giờ 50 phút ngày 07/7/2024, bị cáo điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 21H-3832 đi trên đường Q đến Km25 Quốc lộ C thuộc địa phận thôn Đ, xã T, huyện L, điều khiển xe chuyển hướng vào đường nhánh bên phải để vào thôn Đ, xã T, huyện L. Khi chuyển hướng, H không chú ý quan sát, không giảm tốc tộ, chuyển hướng không đảm bảo an toàn đã xảy ra va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 98M1-201.01 do anh Nguyễn Xuân T điều khiển. Hậu quả làm anh T bị tử vong vào ngày 09/7/2024 . Bị cáo đã tự nguyện bồi thường đại diện bị hại 230.000.000 đồng. Về số tiền đã bồi thường bị cáo không đề nghị gì.Bị cáo nhận thấy có lỗi khi chuyển hướng xe nhưng không không chú ý quan sát, không giảm tốc tộ, chuyển hướng không đảm bảo an toàn gây hậu quả dẫn tới việc anh T bị tử vong, bị cáo ăn năn hối cải và xin giảm hình phạt.Bị cáo không yêu cầu gì trách nhiệm dân sự đối với anh G.

Bị cáo đề nghị được trả lại 01 giấy phép lái xe hạng B2.

Đại diện hợp pháp của bị hại tại các tài liệu trong hồ sơ trình bày: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường gia đình bị hại 230.000.000 đồng;nay đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường thêm khoản nào khác.Về hình phạt: Đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Anh Leo Văn G trình bày: Anh G là chủ sở hữu xe ô tô tải biển kiểm soát 98M1-201.01. Ngày 07/7/2024, anh G và bị cáo H thỏa thuận miệng H lái xe thuê cho anh G để chở thóc thuê, tiền công là 300.000 đồng/ chuyến; không thỏa thuận gì về trách nhiệm dân sự đối với tai nạn, hỏng xe trên đường đi. Tuy nhiên sau khi tai nạn anh G đã tự nguyện đưa cho H 5.000.000 đồng để bồi thường cho gia đình bị hại. Anh G không yêu cầu gì với bị cáo về tiền bồi thường trên và chi phí sửa chữa xe.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang sau khi đánh giá tính chất vụ án, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã luận tội và đề nghị kết tội: Hành vi của bị cáo điều khiển xe ô tô do không không chú ý quan sát, không giảm tốc tộ, chuyển hướng không đảm bảo an toàn đã xảy ra va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 98M1-201.01 do anh Nguyễn Xuân T điều khiển, vi phạm khoản 23 Điều 8 và khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ. Hậu quả làm anh T bị tử vong vào ngày 09/7/2024; do vậy vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố bị cáo.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là " Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại; gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị caó,”.

Đề nghị Hội đồng xét xử : Căn cứ điểm a khoản 1Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạ

H từ 15 tháng tù đến 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” , thời gian thử thách từ 30 tháng đến 40 tháng tính từ ngày tuyên bản án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về

ệm dân sự: Không xem xét

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

ại bị cáo giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Đỗ Văn H

Án phí : Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm .

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội và xin giảm hình phạt .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dânhuyện Lục Nam, Kiểm sát viên trong quá trìnhđiều tra, truy tốđã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về căn cứ xác định cấu thành tội phạm: Lời khai nhận tộ phiê

ô

ự nguyện và

ẩ

ợp với lờ

đại diện bị hạ

đ

ởi tố điề

ợp vớ

ệu, chứng cứ

ể hiện trong hồ sơ

ề thời gian, đ điểm

ễn biế

ộ

ội đồ

ử nhận định: Khoảng 16 giờ 50 phút ngày 07/7/2024, Đỗ Văn H có giấy phép lái xe ô tô hạng B2, điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 21H-3832 (loại xe tải 1050 kg) đi trên đường Q theo hướng huyện L đi huyện L. Khi đi đến Km25 Quốc lộ C thuộc địa phận thôn Đ, xã T, huyện L, H điều khiển xe chuyển hướng vào đường nhánh bên phải để vào thôn Đ, xã T, huyện L. Khi chuyển hướng, H không chú ý quan sát, không giảm tốc tộ, chuyển hướng không đảm bảo an toàn đã xảy ra va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 98M1-201.01 do anh Nguyễn Xuân T điều khiển vi phạm vi phạm khoản 23 Điều 8 và khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ. Hậu quả làm anh T bị tử vong vào ngày 09/7/2024. Do vậy, hành vi của bị cáo phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ

ời khai của bị cáo, Sơ đồ hiện trường, Biê

ệm hiện trườ

ết luậ

đ

Phòng K Công an tỉnh B

ị cáo có lỗi dẫn tới việc anh T bị thương sau đó tử vong. .Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự và luận tội, đề nghị kết tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa là đúng quy định pháp luật .

. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là " Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại; gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo”.

.Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, là nguyên nhân trực tiếp gây hậu quả làm anh T bị thương sau đó tử vong.Trong tình hình an toàn giao thông phức tạp và có nhiều tai nạn như hiện nay, việc xử lý bằng pháp luật hình sự là cần thiết, có tác dụng giáo dục riêng và đấu tranh, phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên, bị cáo là người lao động có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu do lỗi vô ý. Sau khi phạm tội đã tích cực bồi thường cho gia đình người bị hại để khắ

ậ

ái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Ngoài ra đại diện hợp pháp cho người bị hại đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51Bộ luật hình sự; có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại điều 65 Bộ luật hình sự là phù hợp với tính chất vụ án, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đủ điều kiện giáo dục bị cáo thành công dân tốt.

. Trách nhiệm dân sự: Do bị cáo đã tự nguyện bồi thường đại diện hợp pháp của bị hại 230.000.000 đồng , đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.

. Về vật chứng: Vật chứng là giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Đỗ Văn H cần trả lại bị cáo.

ị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm .

Từ những nhận định trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự :

2.Xử phạt:Bị cáo Đỗ Văn H 01 năm 06 tháng tù nhưng hưởng án treo về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách là 03 năm tính từ ngày tuyên bản án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 Bộ luật hình sự. Trường hợp người được hưở

đổi nơi cư thực hiện theo quy đ

Luậ

ự.

3. Trách nhiệm dân sự: Không giải quyết

4.Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự ,Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Đỗ Văn H.

5. Án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 334 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/ 2016/ UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm .

Kể từ ngày bản án có hiệu lực thi hành và có quyết định thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liê

ền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên bản án. Đại diện hợp pháp của bị hạ quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ