vanban.org

Bản án 04/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang Tuyên án 09/07/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức K phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức K 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 11/4/2025. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức Khang tiêu thụ tài sản do trộm mà có - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 323 Luật sửa đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức K phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 04/2025/HS-ST
Ngày: 09 – 7 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trí, bà Hoàng Thị Thiện Lai.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Nhựt Huy là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Đức K, sinh ngày 20/11/1983; nơi sinh: Huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện C, (nay là ấp L, xã L, tỉnh An Giang); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (chết) và bà Cao Thị Na C; bị cáo chưa vợ con.

Tiền án: Không;

Tiền sự: ngày 13/4/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới ban hành Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 20 tháng, chưa chấp hành xong. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2025 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Lâm S, sinh năm 1998; địa chỉ cư trú: Ấp L, xã L, huyện C (nay là ấp L, xã L), tỉnh An Giang (Vắng mặt).

- Ông Dương Huỳnh D, sinh năm 1987; địa chỉ cư trú: Ấp L, xã L, huyện C (nay là ấp L, xã L), tỉnh An Giang (Có mặt)

- Ông Lê Minh P, sinh năm: 2005 (đang bị tạm giam tại Trại tạm giam – Công an tỉnh A), (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 15/10/2024, P mượn xe mô tô biển số 52H5-9912 của Nguyễn Đức K (bạn của P) chạy đến khu vực ấp L, xã L, huyện C, quan sát thấy nhà của Nguyễn Lâm S đang xây, chưa có khóa cửa, nên P dừng xe cặp lề đường cách nhà S khoảng 02m, đi bộ ra phía sau nhà, lén vào trong phòng khách thì thấy S đang nằm ngủ, bên cạnh có để 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, nên P lấy trộm điện thoại cất vào túi quần bên phải của P đang mặc, rồi chạy về nhà K ngủ. Đến khoảng 09 giờ ngày 16/10/2024, P nhờ K đem điện thoại đi bán, khi này P nói cho K biết rõ điện thoại do P trộm mà có nhưng K vẫn đồng ý đem bán điện thoại cho Dương Huỳnh D với giá 8.000.000đồng, K không nói cho D biết điện thoại do trộm cắp mà có, D đồng ý mua và trả tiền cho K 6.000.000đồng (trừ 2.000.000 đồng do trước đây P nợ D). Sau đó, K đưa P 6.000.000 đồng tiền bán điện thoại, P chia cho K 590.000 đồng để tiêu xài.

Quá trình điều tra thu giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu tím; 01 xe mô tô biển số 52H5-9912 nhãn hiệu DAEHAN, màu sơn đỏ - xanh, số khung DGF-0723977, số máy DGE 100-0723977, đã xử lý xong trong vụ án khác.

Tại Kết luận định giá tài sản số 39/KL-HĐĐG.TTHS ngày 08/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu tím (đã qua sử dụng, đang sử dụng) trị giá 19.200.000 đồng.

Cáo trạng số 54/CT-VKSCM ngày 11/6/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – An Giang) đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức K về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo K khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà, nhưng quá trình điều tra trình bày nội dung phù hợp với Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố. Căn cứ tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt HĐXX): Áp dụng khoản 1 điều 323; Điều 38; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo K từ 09 tháng đến 01 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng: Tài sản phạm tội đã được trao trả lại cho chủ sở hữu và đã được giải quyết xong trong vụ án khác nên không đề cập.

Bị cáo không bào chữa và tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

. Về thủ tục tố tụng:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, về các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, việc vắng mặt của các ông không gây trở ngại đến xét xử của vụ án. Căn cứ vào các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

. Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáotrạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Dù không hứa hẹn trước, nhưng vào khoảng 09 giờ ngày 16/10/2024, bị cáo nghe P nói và biết rõ có lấy trộm được 01 diện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu tím của người khác và nhờ bị cáo đem đi bán, thì bị cáo đồng ý đem bán điện thoại cho Dương Huỳnh D với giá 8.000.000đồng, Sau đó, bị cáo đưa tiền cho P và P chia cho bị cáo 590.000 đồng để tiêu xài. Điện thoại mà bị cáo mang đi tiêu thụ dùm cho P có giá qua giám định 19.200.000 đồng. Hành vi đó của bị cáo đã phạm vào tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, HĐXX nhận thấy:

Bị cáo K là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân nhận thức được hành vi mình là vi phạm pháp luật, nhưng cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của người khác, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã gây ra nhằm răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện được sự ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét về tính chất của vụ án: Lẽ ra khi biết điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu tím có được là do P lấy trộm của người khác mà có thì bị cáo phải khuyên ngăn P mang trả lại cho người bị mất, nhưng bị cáo không làm được điều đó mà ngược lại khi P nhờ mang đi tiêu thụ thì bị cáo đồng ý ngay. Hành vi đó của bị cáo là nhằm tạo cho P có lòng tin khi có ý định thực hiện hành vi phạm tội của mình, nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là phù hợp. Xét mức án mà kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp pháp luật, đề nghị này được HĐXX chấp nhận.

. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 323 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên HĐXX quyết định miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đã được giải quyết trong vụ án khác nên không đề cập.

Đối với Dương Huỳnh D mua điện thoại do bị cáo bán, nhưng bị cáo không nói và D không biết tài sản do phạm tội mà có, nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất trộm, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, nên không đề cập giải quyết.

. Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức K phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”

1. Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức K 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 11/4/2025.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Đức K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo và các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (09/7/2025), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thián dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ