- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Quang T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đào Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2025/HS-ST Ngày: 20-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BC, TỈNH TN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hồng Phúc;
2. Ông Nguyễn Văn Hải.
- T ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tươi – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện BC, tỉnh TN.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện BC, tỉnh TN tham gia phiên tòa: Ông Hồ Sơn Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 06-01-2025 đối với bị cáo:
Đào Quang T, sinh năm: 1991, tại: tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký nhân khẩu Tờng trú và nơi cư trú: Ấp LH 2, xã LC, huyện BC, tỉnh TN; Nghề nghiệp: Làm mướn; Trình độ học vấn: 8/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Đào Thanh N1, sinh năm 1960 và bà Phạm Thị N2, sinh năm 1967; anh, chị, em ruột: Có 03 người; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: Không có.
Nhân thân: Ngày 05 tháng 12 năm 2024, bị Công an huyện BC xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 14/11/2024 và chuyển tạm giam cho đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ ngày 14/11/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Đào Quang T đi xe ôm đến khu vực gần Bệnh viện A, thuộc xã TP, huyện GD, tỉnh TN gặp người đàn ông tên N (không rõ nhân thân) mua 200.000 đồng chất ma túy đá, chứa bên trong một đoạn ống hút nhựa trong suốt hàn kín hai đầu. Sau khi mua ma túy, T bỏ ma túy vào vỏ hộp thuốc lá nhãn hiệu Jet mang theo trước đó rồi cất vào túi quần phía trước bên phải đang mặc, sau đó đón xe về nhà. Khi đến ngã ba đường đất đỏ khu vực thánh thất Cao đài LC thuộc ấp LH 2, xã LC, huyện BC, tỉnh TN, T xuống xe đi bộ về nhà thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang vào lúc 09 giờ 20 phút cùng ngày, tiến hành tạm giữ người và vật chứng là mẫu tinh thể màu trắng bên trong ống nhựa trong suốt, hàn kín hai đầu (ký hiệu M) để điều tra làm rõ.
Trong ngày 14/11/2024, lực lượng chức năng đã tiến hành kiểm tra nhanh chất ma túy trong cơ thể Đào Quang T cho kết quả dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine.
Tại Kết luận giám định số: 2273/KL-KTHS ngày 19/11/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Mẫu chất tinh thể rắn (kí hiệu M) bên trong ống nhựa trong suốt, hàn kín hai đầu gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 0,3393 gam.
Kết quả thu giữ vật chứng:
+ 01 (một) gói niêm phong ghi số 2273/KL-KTHS;
+ 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu Jet (đã qua sử dụng).
Hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện BC.
Quá trình điều tra xác định, bị cáo không có tài sản nên không tiến hành kê biên.
Đối với người đàn ông tên N bán ma túy cho bị cáo, do không rõ nhân thân, lai lịch nên chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Tại bản Cáo trạng số: 04/CT-VKS ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu đã truy tố bị cáo Đào Quang T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Quang T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Bị cáo thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, bào chữa.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo hối hận về hành vi đã thực hiện, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên ngày 14/11/2024, bị cáo đã đến khu vực gần Bệnh viện A, thuộc xã TP, huyện GD, tỉnh TN để mua ma túy đa từ người đàn ông tên N (không rõ nhân thân). Sau khi mua, bị cáo bỏ ma túy vào vỏ hộp thuốc lá hiệu Jet mang theo trước đó rồi cất vào túi quần, đón xe ôm về nhà. Khi đến khu vực ấp LH 2, xã LC thì bị phát hiện bắt quả tang. Qua giám định, xác định được loại ma túy là Methamphetamine; khối lượng 0,3393 gam.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra, truy tố phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận bị cáo Đào Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép ma túy là vi phạm pháp luật và biết hậu quả của việc sử dụng chất má túy sẽ gây nghiện, là một trong những nguyên nhân đẫn đến các tội phạm và tệ nạn xã hội khác nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo như sau:
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) gói niêm phong ghi số 2273/KL-KTHS và 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu Jet (đã qua sử dụng) là vật cấm sử dụng, tàng trữ và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Tờng vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Đào Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Đào Quang T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/11/2024.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong ghi số 2273/KL-KTHS và 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu Jet (đã qua sử dụng).
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 04/QĐ-VKS-BC và biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/01/2025).
3. Án phí: Buộc bị cáo Đào Quang T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo theo trình tự thủ tục phúc thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Phòng kiểm tra nghiệp vụ TAND tỉnh; - VKSND cùng cấp; - VKSND tỉnh; - Cơ quan THAHS có thẩm quyền; - Chi cục THADS huyện; - Phòng lý lịch Sở Tư pháp tỉnh; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; - Lưu tập án. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Lê Thị Oanh |