vanban.org

Bản án 04/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 10/01/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/01/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Văn Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Đức Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Văn Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HS-PT
Ngày 10-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Anh

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đ Anh

Bà Nguyễn Thị Thanh Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 187/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Lê Văn Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 83/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An.

- Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Lê Văn Đ sinh ngày 23 tháng 7 năm 1994 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Tiểu khu Đ, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Th và bà Lê Thị T; có vợ Lê Thị Tr (đã ly hôn) và có 03 con. Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/4/2024 đến nay. Có mặt tại phiên toà.

- Ngoài ra còn có các bị cáo Đinh Sỹ T và Lê Thanh T1 không kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 02/2024, Lê Văn Đ rủ Đinh Sỹ T đến nhà bạn của Lê Văn Đ ở huyện T, tỉnh Nghệ An chơi và Đinh Sỹ T đồng ý; khi đến nơi mới biết tin là bạn của Lê Văn Đ đã chết nên đến thắp hương. Tại đây Lê Văn Đ và Đinh Sỹ T gặp một người đàn ông giới thiệu tên là Th và nói nếu muốn mua ma túy thì gặp Th. Do Lê Văn Đ và Đinh Sỹ T là người nghiện ma tuý nên đồng ý, Lê Văn Đ và Đinh Sỹ T đi về.

Khoảng 10 giờ ngày 30/4/2024, Lê Văn Đ đã điện thoại rủ bị cáo Đinh Sỹ T và Lê Thanh T1 vào tỉnh Nghệ An chơi. Lê Văn Đ thuê xe ô tô của anh Trần Đăng L chở Đinh Sỹ T và Lê Thanh T1 đi vào tỉnh Nghệ An. Quá trình đi cả ba người thay nhau lái xe, trên xe Lê Văn Đ và Đinh Sỹ T bàn bạc với nhau là vào Nghệ An gặp người đàn ông tên Th để mua ma tuý; việc bàn bạc mua ma túy giữa Lê Văn Đ và Đinh Sỹ T trên xe Lê Thanh T1 nghe nhưng không có ý kiến gì. Khoảng 18 giờ cùng ngày khi cả ba người đến địa phận xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An dừng xe, Lê Văn Đ và Đinh Sỹ T xuống xe gặp Thế, còn Lê Thanh T1 ngồi trên xe; Lê Văn Đ, Đinh Sỹ T và Thế lên xe và trao đổi về việc mua bán ma túy; Lê Văn Đ và Đinh Sỹ T nói với Thế mua 05 gói hồng phiến nhưng do chưa có tiền và Thế cũng chưa có ma túy nên hẹn tối quay lại sẽ thực hiện việc mua bán; trước khi Th xuống xe có đưa cho T một gói hồng phiến để dùng thử, sau khi có ma túy thì hai bên mới tính để thanh toán sau; số ma túy được Thế cho Đinh Sỹ T đã chia thành hai phần, một phần bỏ trong hộp giấy để ở vị trí cần số xe, phần còn lại gói lại như cũ và để trong nắp đóng mở đổ xăng. Sau đó cả ba người đi ăn tối và do không có tiền nên đã đi về không mua ma túy như đã hẹn với Th trước đó. Trên đường về thì cả ba người đã lấy số ma túy được Th cho ra sử dụng. Khi cả ba bị cáo về đến thị trấn T, huyện Q, tỉnh Nghệ An thì bị Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An dừng xe kiểm tra phát hiện và thu giữ: một hộp giấy hình chữ nhật để ở vị trí cần số xe, bên trong có 12 viên nén màu hồng; một gói ni lon ở trong nắp đóng mở đổ xăng bên trong chứa nhiều viên nén màu hồng (nghi là chất ma túy). Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng, tạm giữ phương tiện và đưa 3 người cùng vật chứng và phương tiện về trụ sở để điều tra xử lý.

Ngày 01/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An đã ra lệnh khám xét chỗ ở của Đinh Sỹ T, Lê Văn Đ và Lê Thanh T1. Thi hành lệnh khám xét đã thu giữ ở trong phòng ngủ của Đinh Sỹ T 01 viên nén màu hồng nghi chất ma túy. Đinh Sỹ T thừa nhận viên nén màu hồng thu giữ tại phòng ngủ của Đinh Sỹ T là ma túy mua về cất dấu để sử dụng.

Bản kết luận giám định số 489/KL-PC09 (Đ2-MT) ngày 07/5/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: 02 mẫu viên nén màu hồng (ký hiệu M1 và M2) thu giữ của Đinh Sỹ T và Lê Văn Đ vào ngày 30/4/2024 gửi tới giám định là ma tuý; loại Methamphetamine. Số viên nén màu hồng thu giữ của Đinh Sỹ T, Lê Văn Đ vào ngày 30/4/2024, tổng khối lượng là 18,42 gam.

Bản kết luận giám định số 495/KL-PC09 (Đ2-MT) ngày 09/5/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Đinh Sỹ T vào ngày 01/5/2024 gửi tới giám định là ma tuý; loại Methamphetamine. Viên nén màu hồng thu giữ của Đinh Sỹ T vào ngày 01/5/2024 có khối lượng là 0,085 gam.

Bản án hình sự sơ thẩm số 83/2024/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An, quyết định:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 30/4/2024.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên xử phạt Đinh Sỹ T, Lê Thanh T1, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo.

Ngày 30/9/2024, bị cáo Lê Văn Đ có đơn kháng cáo với nội dung: Đề nghị cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Lê Văn Đ giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn Đ; sửa bản án sơ thẩm.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ từ 05 (năm) tù đến 05 (năm) 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 30/4/2024.

Bị cáo Lê Văn Đ không tranh luận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Bị cáo Lê Văn Đ nộp đơn kháng cáo trong hạn luật định, hình thức, nội dung đơn kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Văn Đ thừa nhận Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Bị cáo Lê Văn Đ khai ngày 30/4/2024 đã cùng với Đinh Sỹ T, Lê Thanh T1 tàng trữ trái phép 18,42 gam ma tuý Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang.

Bị cáo Lê Văn Đ tàng trữ 18,42 gam ma tuý Methamphetamine nên Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Lê Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Văn Đ, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Lê Văn Đ là người nghiện ma tuý nên đã mua ma tuý về sử dụng; quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; được Cơ quan điều tra Công an huyện Q đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ vì đã tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra Công an huyện Q cung cấp thông tin về đối tượng, số điện thoại, thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, giúp Cơ quan điều tra bắt giữ Ngân Văn Pịt, sinh năm 1992, trú tại xã Nhôn Mai, huyện Tương, tỉnh Nghệ An, thu giữ 838,11 gam Methamphetamine; gia đình bị cáo có công với cách mạng có ông nội Lê Quang Đán được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất; bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân không có tiền án, tiền sự; hoàn cảnh bị cáo khó khăn, vợ đã ly hôn, hai còn còn nhỏ đang sống cùng với Lê Văn Đ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, Tòa án sơ thẩm xử phạt bị cáo 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là có phần nghiêm khắc. Vì vậy, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn Đ, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn Đ; sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 30/4/2024.

2. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Văn Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

Cỡ chữ