- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đường Ngọc H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2025/HS-PT Ngày 21-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Long Kiếm
Các Thẩm phán: Ông Vi Đức Trí;
Ông Cao Đức Chiến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng, Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 117/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Đường Ngọc H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
- Bị cáo có kháng cáo: Đường Ngọc H, sinh ngày 03-10-1991 tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn C, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Cán bộ Trạm y tế xã Đ1; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Đường Trung N và bà Lương Thị B; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, Ngày 07-3-2022 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an huyện Tràng Định ra quyết định xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21-6-2024 đến nay; có mặt.
Ngoài ra, còn có 01 bị cáo có kháng cáo nhưng đã rút kháng cáo trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, 02 bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 30 phút ngày 21-4-2024, tổ Công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm (CSĐTTP) về Kinh tế - Ma túy, Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Công an xã Đại Đồng, huyện Tràng Định đến nhà Nguyễn Ngọc H, trú tại thôn C, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn để gọi hỏi xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn H (là em trai đang ở nhà của Nguyễn Ngọc H) thì phát hiện tại túi quần bên phải của Nguyễn H có 01 gói chất bột màu trắng được gói bằng giấy trắng, Nguyễn H khai nhận là chất ma túy Heroin. Tổ công tác đã đưa Nguyễn H cùng toàn bộ tang vật về trụ sở Công an xã Đại Đồng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ tang vật gồm 01 gói chất bột màu trắng được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu OPPO số IMEI 869347030494657 bên lắp 01 sim số thuê bao 0346.135540 đã qua sử dụng, 900.000 đồng tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra Công an huyện Tràng Định tiến hành khám xét khẩn cấp tại nơi Nguyễn H bị bắt quả tang tại thôn C, xã Đ, huyện T phát hiện và thu giữ trong bếp 01 kéo kim loại dài khoảng 20 cm bị gãy phần tay cầm, 01 quyển vở bên trong có nhiều tờ bị cắt nham nhở, 01 bật lửa gas nhãn hiệu Thống Nhất, 01 mảnh giấy bạc diện 05 x 05 cm, 01 mảnh giấy bạc bị vo nhàu và đốt xém ở giữa.
Tại Kết luận giám định số 551/KL-KTHS ngày 23/4/2024 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng có trong 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ gửi giám định là chất ma túy Heroin có khối lượng 0,250 gam (đã trừ bì).
Tại bản kết luận số 530/KL-KTHS ngày 26/4/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Toàn bộ số tiền 900.000 đồng tiền Việt Nam thu giữ Nguyễn H gửi giám định đều là tiền thật.
Tại Cơ quan điều tra các bị cáo khai nhận: Khoảng 21 giờ ngày 20-4-2024 khi Nguyễn H đang ở nhà anh trai là Nguyễn Ngọc H thì có Nông Văn M, trú tại thôn P, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn gọi điện thoại cho Nguyễn H hỏi có ma túy bán không, Nguyễn H bảo có và bảo Nông Văn M ra nhà Nguyễn Ngọc H để giao dịch mua bán. Khi Nông Văn M đến nhà Nguyễn Ngọc H, được khoảng 02 phút sau thì có Nông Văn D, trú tại thôn Thống Nhất, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn cũng đến hỏi Nguyễn H mua 01 gói ma túy. Lúc này Nông Văn M đưa cho Nguyễn H 600.000 đồng bảo mua 03 gói ma túy và Nông Văn D cũng đưa cho Nguyễn H 200.000 đồng bảo mua 01 gói ma túy. Nhận tiền xong, Nguyễn H đi đâu đó khoảng 10 phút sau quay lại lấy ma túy về rồi cùng lúc đưa cho cho Nông Văn M 03 gói ma túy và đưa cho Nông Văn D 01 gói ma túy đều được gói bằng giấy trắng kẻ ô ly tại bếp nhà của Nguyễn Ngọc H. Khi mua được ma túy, Nông Văn M tự lấy 01 gói ma túy ra sử dụng một mình tại bếp nhà của Nguyễn Ngọc H hình thức hít (trước khi sử dụng ma túy Nông Văn M không xin phép Nguyễn Ngọc H sử dụng ma túy trong bếp nhà Nguyễn Ngọc H và lúc này Nguyễn Ngọc H đang ngủ trong buồng nên không biết). Còn Nông Văn D cầm gói ma túy vừa mua được vào buồng ngủ của Nguyễn Ngọc H rồi pha đều gói ma túy vào nước cất rồi cho vào 02 xi lanh mà Nông Văn D mang theo rồi đưa cho Nguyễn Ngọc H 01 xin lanh và Nông Văn D 01 xi lanh chứa chất ma túy đã pha rồi cả hai cùng nhau sử dụng bằng hình thức “chích” ngay tại buồng ngủ của Nguyễn Ngọc H. Sau khi sử dụng ma túy xong, thì Nông Văn D bị sốc ma túy nên Nguyễn Ngọc H gọi Nguyễn H đưa Nông Văn D lên giường nằm và Nông Văn M cũng đi về nhà.
Đến khoảng 14 giờ ngày 21-4-2024 trong khi Nguyễn H đang ở nhà Nguyễn Ngọc H thì có Lý Văn H, trú tại xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn đến gặp Nguyễn H hỏi có biết chỗ nào bán ma túy không thì mua hộ 01 gói giá 200.000 đồng, Nguyễn H đồng ý. Nguyễn H nhận tiền rồi gọi điện thoại cho Đường Ngọc H hỏi mua 01 gói ma túy thì Đường Ngọc H hẹn Nguyễn H ra tường rào cách nhà nghỉ V thuộc thôn C, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn khoảng 15 mét để lấy ma túy và Đường Ngọc H dặn Nguyễn H gói ma túy để trên tường rào, sau khi lấy ma túy xong thì để tiền ở đấy Đường Ngọc H sẽ tự ra lấy. Nguyễn H một mình đến khu vực tường rào để lấy 01 gói ma túy và cất 200.000 đồng tại khu vực chân tường rào cho Đường Ngọc H rồi đi bộ về nhà của Nguyễn Ngọc H, Nguyễn H tự lấy gói ma túy vào bếp tự xẻ ra lấy một nửa mục đích để sử dụng cho bản thân, còn 01 nửa đưa cho Lý Văn H. Lý Văn H cầm gói ma túy trên về một mình tự sử dụng hết. Việc Nguyễn H đi mua ma túy với Đường Ngọc H và Nguyễn H tự xẻ lấy 01 ít ma túy từ gói ma túy của Lý Văn H thì Lý Văn H không biết, sau khi đưa tiền nhờ Nguyễn H đi mua hộ ma túy thì Lý Văn H chỉ thấy Nguyễn H đi đâu đó khoảng một lúc rồi quay lại đưa cho Lý Văn H 01 gói ma túy. Đối với gói ma túy Nguyễn H tự xẻ từ gói ma túy của Lý Văn H chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang.
Bị cáo Nguyễn H khai nhận nguồn gốc ma túy bán cho Nông Văn M và Nông Văn D ngày 20-4-2024 và nguồn gốc 01 gói ma túy mua cho Lý Văn H là do Nguyễn H mua với Đường Ngọc H. Tại cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn H không thừa nhận được bán ma túy cho Nông Văn D và Nông Văn M mà chỉ đi mua hộ cho 02 người này mục đích được trả công bằng ma túy để sử dụng. Tuy nhiên, Nông Văn M và Nông Văn D khẳng định biết Nguyễn H bán ma túy nên mục đích đến để mua ma túy với Nguyễn H chứ không phải nhờ Nguyễn H đi mua hộ ma túy rồi trả công bằng ma túy cho Nguyễn H như Nguyễn H đã khai. Còn đối với Lý Văn H, Nguyễn H cũng khai nhận đi mua hộ ma túy cho Lý Văn H mục đích để được trả công bằng ma túy để sử dụng, còn Lý Văn H khai đến nhờ Nguyễn H mua ma túy hộ. Trong quá trình đối chất, Nguyễn H và Lý Văn H đều thừa nhận việc Lý Văn H bảo Nguyễn H đi mua hộ ma túy, đối với gói ma túy Nguyễn H mua hộ thì Lý Văn H đã tự sử dụng hết. Đối với việc Nguyễn H tự ý xẻ lấy 01 gói ma túy có khối lượng 0,250 gam từ gói ma túy của Lý Văn H thì Lý Văn H không biết nên Lý Văn H không đồng phạm với Nguyễn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị cáo Đường Ngọc H khai nhận: Nguồn gốc 01 gói ma túy bán cho Nguyễn H là vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 21-4-2024, khi cần chất ma túy để sử dụng Đường Ngọc H đã đi bộ từ nhà lên khu vực Khau Ngù thuộc thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn để tìm mua ma túy về sử dụng. Đến nơi Đường Ngọc H gặp một người đàn ông (không rõ tên tuổi, địa chỉ) đứng cạnh đường và hỏi mua 01 gói ma túy Heroin với giá 200.000 đồng. Mua xong Đường Ngọc H cầm gói ma túy trên về nhà xẻ một ít ra tự mình sử dụng bằng hình thức hít, số còn lại Đường Ngọc H bán cho Nguyễn H với giá 200.000 đồng tại khu vực nhà nghỉ V thuộc thôn C, xã Đ, huyện T, như vậy lời khai của Đường Ngọc H và Nguyễn H phù hợp với nhau. Còn đối với việc Nguyễn H khai tối ngày 20-4-2024 được mua 04 gói ma túy với Đường Ngọc H, Đường Ngọc H khẳng định là không đúng. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa Nguyễn H và Đường Ngọc H nhưng các bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai của mình nên không có căn cứ xử lý đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy đối với Đường Ngọc H vào ngày 20-4-2024.
Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS-ST ngày 31-10-2024 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đường Ngọc H 02 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ngoài ra, Bản án còn xử phạt 03 bị cáo mức hình phạt từ 02 năm tù đến 09 năm 06 tháng tù, tuyên về trách xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, bị cáo Đường Ngọc H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, bị cáo Đường Ngọc H giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn: Bản án sơ thẩm kết án bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và ấn định mức hình phạt 02 năm 06 tháng tù đối với bị cáo là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Đường Ngọc H cung cấp thêm ông nội của bị cáo là ông Đường Duy T được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huy hiệu 50 năm tuổi đảng. Bố bị cáo là ông Đường Trung N được tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bằng khen của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Giấy khen của Giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ chỉ huy quân sự thống nhất tỉnh Bắc Thái chứng nhận đã hoàn thành nhiệm vụ xây dựng công trình quốc phòng, góp phần đánh thắng quân Trung Quốc xâm lược, bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, tình tiết mới không làm thay đổi tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo Đường Ngọc H thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân như Bản án sơ thẩm đã tuyên, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, việc truy tố và xét xử bị cáo Đường Ngọc H về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện, đánh giá đúng tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và ấn định mức hình phạt 02 năm 06 tháng tù là phù hợp và có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm ông nội của bị cáo là ông Đường Duy T được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huy hiệu 50 năm tuổi đảng. Bố bị cáo là ông Đường Trung N được tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bằng khen của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Giấy khen của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ chỉ huy quân sự thống nhất tỉnh Bắc Thái chứng nhận đã hoàn thành nhiệm vụ xây dựng công trình quốc phòng, góp phần đánh thắng quân Trung Quốc xâm lược, bảo vệ Tổ quốc. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới bị cáo được hưởng theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, bị cáo Đường Ngọc H là người bán ma túy cho bị cáo Nguyễn H nên có vai trò đồng phạm cao hơn bị cáo Nguyễn H trong hành vi mua bán trái phép chất ma túy; tình tiết giảm nhẹ mới tại cấp phúc thẩm không đủ để giảm hình phạt cho bị cáo, không thay đổi được bản chất vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đường Ngọc H; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS-ST ngày 31-10-2024 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đối với phần hình phạt tù của bị cáo Đường Ngọc H, cụ thể như sau:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đường Ngọc H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21-6-2024.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Đường Ngọc H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm sung ngân sách Nhà nước.
3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Phòng PV06 Công an tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - Trại tạm giam, CAT; - TAND huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn; - CCTHADS huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn; - Công an huyện Tràng, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, HCTP, Tòa Hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Long Kiếm |