vanban.org

Bản án 04/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho bà Hà Thị Th được ly hôn ông Lương Văn T

Án phí: Miễn tiền án phí ly hôn sơ thẩm cho bà Hà Thị Th. Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt bà Th và ông T. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hà Thị Thảo - Lương Văn Tầm: HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho bà Hà Thị Th được ly hôn ông Lương Văn T
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUAN HÓA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HNGĐ- ST
Ngày 27/03/2025
V/v: “Tranh chấp hôn nhân gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA- THANH HÓA

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Mừng

Bà Lương Thị Diện

-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Phương - Kiểm sát viên.

Vào ngày 27 tháng 03 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 14/2025/TLST-HNGĐ ngày 17/02/2025 về việc:“Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐST- HNGĐ ngày 11 tháng 03 năm 2025 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Bà Hà Thị Th - Sinh năm: 1970

Địa chỉ: Xóm Sạn Sộp, xã Sơn Thuỷ, huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình. Vắng mặt. (Có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 24/03/2025).

-Bị đơn: Ông Lương Văn T - Sinh năm: 1957

Địa chỉ: Bản Chiềng, xã Trung Thành, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt. (Có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 25/03/2025).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn bà Hà Thị Th trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Lương Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, tự do tìm hiểu, không bị ai ép buộc, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương và có đăng kí kết hôn vào ngày 27/12/2018 tại UBND xã Trung Thành, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống tại Bản Chiềng, xã Trung Thành, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa được một thời gian. Tuy nhiên đến đầu năm 2022 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, quan điểm sống khác nhau, dẫn đến không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Đến nay, bà Th xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung kéo dài cũng chỉ làm khổ nhau. Do đó, bà Th đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn ông Lương Văn T.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản và công nợ chung: Bà Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 18 tháng 02 năm 2025, bị đơn ông Lương Văn T trình bày:

Về hôn nhân: Ông và bà Hà Thị Th đăng kí kết hôn vào ngày 27/12/2018 tại UBND xã Trung Thành, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Vợ chồng chung sống đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, quan điểm sống khác nhau dẫn đến không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Bà Th đã về nhà ở Xóm Sạn Sộp, xã Sơn Thuỷ, huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình sinh sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Mặc dù sống ly thân nhưng ông T vẫn còn tình cảm với bà Th và không đồng ý ly hôn bà Th.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản và công nợ chung: Ông Lương Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bà Hà Thị Th đề nghị không tiến hành hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS). Tòa án cũng đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho các bên đương sự nhưng ông T không có mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông T. Bà Th và ông T đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ điều 227, điều 228, điều 238 của BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Th và ông T.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Tòa án đã tuân thủ đúng quy định về trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho bà Th được ly hôn ông T. Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng không có con chung nên miễn xét. Về tài sản, công nợ chung: Bà Th và ông T không yêu cầu giải quyết nên miễn xét. Về án phí: Bà Hà Thị Th thuộc trường hợp hộ nghèo nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hôn nhân: Bà Hà Thị Th và ông Lương Văn T đến với nhau trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương và có đăng kí kết hôn vào ngày 27/12/2018 tại UBND xã Trung Thành, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa và không vi phạm Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, là hôn nhân hợp pháp và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình vợ chồng chung sống đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau, dẫn đến không thông cảm được cho nhau trong cuộc sống. Vợ chồng không có con chung nên không có gì gắn kết, ràng buộc. Vì những lẽ đó, bà Th và ông T đã sống ly thân từ đầu năm 2022, không còn sinh hoạt chung. Điều này phù hợp với lời khai của các đương sự và xác minh tại địa phương. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho bà Th được ly hôn ông T để giải phóng cho người phụ nữ là cần thiết và phù hợp pháp luật.

Về con chung: Quá trình chung sống bà Th và ông T không có con chung nên miễn xét.

Về tài sản và công nợ: Bà Th và ông T không yêu cầu Toà án giải quyết nên miễn xét.

Về án phí: Bà Hà Thị Th thuộc trường hợp hộ nghèo nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, khoản 4 điều 207, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí và lệ phí Toà án.

Về hôn nhân: Xử cho bà Hà Thị Th được ly hôn ông Lương Văn T

Án phí: Miễn tiền án phí ly hôn sơ thẩm cho bà Hà Thị Th.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt bà Th và ông T. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án..

Cỡ chữ