- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án ly hôn L - Kh"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Lùng Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST Ngày 14/03/2025 Về việc ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vi Văn Thuy
2. Ông Vàng Văn Toàn
- Thư ký phiên tòa: Ông Quàng Văn Nam - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thương - Kiểm sát viên.
Ngày 14/3/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 05/2025/TLST- HNGĐ ngày 11/02/2025 về việc “Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/02/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lùng Thị L, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Bản N, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt do có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Lẻo Văn Kh, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Bản N, xã N, huyện M, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt do có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Lùng Thị L trình bày:
Về hôn nhân: Ngày 12/6/2003 chị L, anh Kh có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên, kết hôn tự nguyện. Trước khi đăng ký kết hôn chị L và anh Kh đã có thời gian dài yêu nhau và chung sống với nhau từ năm 2000. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc thời gian đầu, những năm sau có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình, bất đồng quan điểm trong việc phát triển kinh tế gia đình, anh Kh không chịu khó lao động, lại nghiện ma túy, đã từng đi cai nghiện ma túy ở trung tâm cai nghiện tỉnh Điên Biên nhưng sau khi cai nghiện xong lại tái nghiện. Hai vợ chồng đã được gia đình hòa giải nhưng quan hệ vợ chồng không hàn gắn được. Đến tháng 5 năm 2023 hai vợ chồng bắt đầu sống ly thân. Chị L thấy không còn tình cảm với anh Khạch nên yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lẻo Văn Kh.
Về con riêng, con nuôi: Chị L và anh Kh không có con riêng, không có con nuôi.
Về con chung: Các đương sự có hai con chung là cháu Lẻo Thị L, sinh ngày 01/02/2001 và cháu Lẻo Văn H, sinh ngày 30/8/2005. Các con chung đã đều đã thành niên, đã lập gia đình riêng và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản riêng, tài sản chung, nợ chung, nợ riêng: Các đương sự không có tài sản riêng, không có tài sản chung, không có nợ chung, không có nợ riêng.
Ngày 25/02/2025 Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định xét xử cho các đương sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị L vắng mặt, trong đơn xin xét xử vắng mặt chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh Kh. Về con chung, các đương sự có hai con chung là cháu Lẻo Thị L, sinh ngày 01/02/2001 và cháu Lẻo Văn H, sinh ngày 30/8/2005. Các con chung đã đều đã thành niên, đã lập gia đình riêng và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản riêng, tài sản chung, nợ chung, nợ riêng: Các đương sự không có tài sản riêng, không có tài sản chung, không có nợ chung, không có nợ riêng.
Trong bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Kh nêu quan điểm không đồng ý ly hôn, về con chung là cháu Lẻo Thị L, sinh ngày 01/02/2001 và cháu Lẻo Văn H, sinh ngày 30/8/2005 đều đã thành niên, đã lập gia đình riêng và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung, nợ riêng do không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa sơ thẩm, kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử: Chấp hành và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của nguyên đơn chị Lùng Thị L. Về án phí, căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn chị Lùng Thị L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với bị đơn. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé thụ lý giải quyết là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc vắng mặt của các đương sự:
Nguyên đơn chị L và bị đơn anh Kh đều có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Xét quan hệ hôn nhân: Chị L và anh Kh kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo đúng quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình nên hôn nhân giữa chị L và anh Kh là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị L:
Chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh Kh. Hội đồng xét xử xét thấy, cuộc sống hôn nhân giữa chị L và anh Kh có phát sinh mâu thuẫn, rạn nứt tình cảm vợ chồng, quá trình chung sống hay bất đồng quan điểm trong việc nuôi dậy con chung và phát triển kinh tế gia đình. Chị L và anh Kh đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2023 đến nay. Chị L không còn yêu thương anh Kh, cuộc sống chung của chị L và anh Kh không tiếp tục duy trì được nữa, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L.
Đối với các con chung: Chị L và anh Kh có hai con chung cháu Lẻo Thị L, sinh ngày 01/02/2001 và cháu Lẻo Văn H, sinh ngày 30/8/2005, các con chung đều đã thành niên, đã lập gia đình riêng và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về con riêng, con nuôi: Các đương sự không có con riêng, không có con nuôi.
Về tài sản riêng, tài sản chung, nợ riêng, nợ chung: Các đương sự không có tài sản riêng, không có tài sản chung, không có nợ riêng, không có nợ chung.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn chị Lùng Thị L.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 271, 273, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Lùng Thị L.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lùng Thị L được ly hôn với anh Lẻo Văn Kh.
2. Về con chung, con riêng, con nuôi:
Con chung: Chị L và anh Kh có hai con chung cháu Lẻo Thị L, sinh ngày 01/02/2001 và cháu Lẻo Văn H, sinh ngày 30/8/2005, các con chung đều đã thành niên, đã lập gia đình riêng và có khả năng lao động, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Con riêng, con nuôi: Các đương sự không có con riêng, không có con nuôi.
3. Về tài sản riêng, tài sản chung, nợ chung, nợ riêng: Các đương sự không có tài sản riêng, không có tài sản chung, không có nợ chung, không có nợ riêng.
4. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn chị Lùng Thị L.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Phòng Thanh tra, Kiểm tra và Thi hành án (TAND tỉnh Điện Biên); - Viện kiểm sát huyện Mường Nhé; - Các đương sự; - Chi cục THADS huyện Mường Nhé; - UBND xã M; huyện M; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Thị Nhung |