vanban.org

Bản án 04/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung” của bà Nguyễn Thị Kiều M đối với ông Trần T

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Kiều M được ly hôn với ông Trần T. Về quan hệ con chung: Giao 02 con chung chưa thành niên là Trần Thị Ánh Tt, sinh ngày 07/7/2012 và Trần Huyền Anh Th, sinh ngày 07/01/2014 cho bà Nguyễn Thị Kiều M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung” của bà Nguyễn Thị Kiều M đối với ông Trần T
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒA VANG – TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST
Ngày 03 tháng 3 năm 2025
V/v " Tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Khánh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Cao Văn Truyện

2. Bà Nguyễn Thị Thuỷ

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ly - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Huỳnh Công Hưng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 324/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2024 về việc: " Tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều M, sinh năm: 1992; Địa chỉ: Tổ 7 thôn Phú Thượng, xã Hòa Sơn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)

2. Bị đơn: Ông Trần T, sinh năm: 1992; Địa chỉ: Tổ 03 thôn Mỹ Sơn, xã Hòa Ninh huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 24 tháng 10 năm 2024, bản tự khai và trình bày tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều M thể hiện:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kiều M và ông Trần T xây dựng gia đình năm 2012 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hoà Ninh, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện.

Sau khi xây dựng gia đình vợ chồng về chung sống với nhau tại thôn Phú Thương, xã Hoà Sơn, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng. Quá trình vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng mọi quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã nhau. Vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 10 năm 2024 đến nay và không còn trách nhiệm gì với nhau nữa.

Nay bà Nguyễn Thị Kiều M xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà M được ly hôn với ông Trần T.

- Về con chung: Bà Nguyễn Thị Kiều M xác định bà và ông Trần T có 02 (hai) người con chung là Trần Thị Ánh T, sinh ngày 07/7/2012 và Trần Huyền Anh Th, sinh ngày 07/01/2014.

Ly hôn, bà Nguyễn Thị Kiều M có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông Trần T đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kiều M xác định không có.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân huyện Hòa Vang đã gửi thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông Trần T, để biết việc bà Nguyễn Thị Kiều M gửi đơn xin ly hôn, nuôi con chung đến Tòa án. Đồng thời, Toà án đã thông báo về các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định về việc đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa đối với ông Trần T, nhưng ông Trần T không có ý kiến phản hồi và vắng mặt tại các phiên hoà giải cũng như hai lần mở phiên toà.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang đã căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Tòa án đã T hành việc thu thập chứng cứ đảm bảo theo quy định tại Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự.

Thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng đảm bảo theo các Điều 171, 177 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân theo đúng quy định của pháp luật.

- Đối với các đương sự:

+ Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng;

+ Bị đơn, mặc dù đã được Tòa án thực hiện việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng trình tự do pháp luật quy định, nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và cũng không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến, không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71,72 và 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Việc bà Nguyễn Thị Kiều M yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần T là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho bà Nguyễn Thị Kiều M được ly hôn với ông Trần T.

Về con chung: Giao 02 con chung Trần Huyền Anh Th, sinh ngày 07/01/2014 và Trần Thị Ánh T, sinh ngày 07/7/2012 cho bà Nguyễn Thị Kiều M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà M không yêu cầu ông Trần T đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kiều M xác định không có nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm về vụ án, sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng

Bà Nguyễn Thị Kiều M khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trần T, sinh năm: 1992; Địa chỉ: Tổ 03 thôn Mỹ Sơn, xã Hòa Ninh huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điểu 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.

- Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Trần T tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng ông Trần T vẫn vắng mặt. Vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử T hành xét xử vắng mặt ông Trần T.

Về nội dung

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kiều M và ông Trần T xây dựng gia đình năm 2012 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hoà Ninh, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật tôn trọng và bảo vệ.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Kiều M giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin được ly hôn với ông Trần T, lý do là tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được.

Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kiều M thì thấy: Hạnh phúc gia đình chỉ thực sự đạt được khi cả vợ chồng cùng yêu thương, chia sẻ, quan tâm nhau. Tuy nhiên theo bà M thì trong thời gian chung sống với nhau giữa bà và ông T không có được những điều đó thể hiện ở việc vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhau, bản thân ông T không có trách nhiệm với gia đình với vợ con. Từ tháng 10 năm 2024 đến nay vợ chồng đã sống ly thân và không còn trách nhiệm gì với nhau nữa.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập các bên đương sự để T hành hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không thực hiện được do ông Trần T không hợp tác, điều này thể hiện ông Trần T không có thiện chí để hàn gắn hạnh phúc gia đình.

Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà Nguyễn Thị Kiều M và ông Trần T là có thật và đã đến mức độ trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kiều M đối với ông Trần T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị Kiều M xác định bà và ông Trần T có 02 (hai) người con chung là Trần Thị Ánh T, sinh ngày 07/7/2012 và Trần Huyền Anh Th, sinh ngày 07/01/2014.

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, bà Nguyễn Thị Kiều M có nguyên vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung.

Còn ông Trần T không có ý kiền gì đối với yêu cầu nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của bà Nguyễn Thị Kiều M.

Xét thấy việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng phải đảm bảo cuộc sống cũng như tương lai của con chung và điều kiện thực tế của mỗi bên. Mặc dù hiện tại con chung đang ở với ông T, tuy nhiên theo tài liệu chứng cứ thể hiện ông T không chăm lo cho các con, các con không được đi học (có xác nhận của nhà trường), điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc phát triển của các con.

Còn hiện tại bà M có công việc ổn định đảm bảo điều kiện để nuôi con. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy cần giao cả 02 con chung cho bà M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp và đảm bảo tương lai cho các con chung.

Bà Nguyễn Thị Kiều M không yêu cầu ông Trần T phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kiều M xác định không có nên không đề cập đến.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà Vang đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Đặng Thị Cẩm vui phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung” của bà Nguyễn Thị Kiều M đối với ông Trần T

Căn cứ Điều: 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Tuyên Xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Kiều M được ly hôn với ông Trần T.

2.Về quan hệ con chung: Giao 02 con chung chưa thành niên là Trần Thị Ánh Tt, sinh ngày 07/7/2012 và Trần Huyền Anh Th, sinh ngày 07/01/2014 cho bà Nguyễn Thị Kiều M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Ông Trần T không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.

Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3.Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kiều M xác định không có nên không đề cập đến.

4.Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000đ bà Nguyễn Thị Kiều M phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ bà M đã nộp tại biên lai thu số 0002443 ngày 30/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Như vậy bà Nguyễn Thị Kiều M đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình;

5.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ