vanban.org

Bản án 04/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH MTV M-A. Cụ thể: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 04/2025/DS-ST
Ngày: 02-7-2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Thanh Sang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Kim Thủy.

2. Ông Đinh Thanh Sơn.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài – Thư ký Tòa án nhân

dân khu vực 3.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà – Kiểm sát viên.

Trong ngày 02/7/2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 3, TP.HCM, xét xử sơ thẩm công

khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 272/2024/TLST–DS ngày 10/10/2024, về việc: “Tranh

chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2025/QĐXXST-

DS ngày 08/5/2025; Quyết định hoãn phiên tòa 68/2025/QĐST-DS ngày 02/6/2025, giữa các

đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty tài chính TNHH MTV M-A.

Địa chỉ: đường P, phường SG, TP.HCM.

Đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Phạm Thành N, văn bản uỷ quyền ngày

06/01/2025 (có đơn xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Bà Thái Thị Lệ H, sinh năm: 1977.

Địa chỉ: đường đường HG, phường BP, TP.HCM (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn

trình bày:

Ngày 09/01/2023, Công ty tài chính TNHH một thành viên M-A (sau đây gọi tắt là

Công ty) ký Hợp đồng tín dụng số: 4163472 (gọi tắt là HĐTD) về việc cấp tín dụng cho Bà

Thái Thị Lệ H với khoản vay trị giá 21.540.000 đồng, lãi suất 46%/năm. Sau khi hợp đồng

được ký kết, Công ty đã giải ngân theo đúng quy định trong HĐTD cho Bà Thái Thị Lệ H, số tiền giải ngân được Công ty chuyển vào tài khoản cá nhân của Bà Thái Thị Lệ H. Theo HĐTD, Bà Thái Thị Lệ H có trách nhiệm, nghĩa vụ thanh toán là trả góp hàng tháng với số tiền là 1.777.497 đồng trong kỳ hạn 24 tháng, kể từ ngày 25/01/2023 đến ngày 25/12/2024 cho Công ty.

Kể từ ngày được giải ngân đến nay Bà Thái Thị Lệ H chỉ mới thanh toán trả góp cho

Công ty được 01 kỳ với tổng số tiền đã thanh toán là 1.401.000 đồng. Ngày 27/01/2023 đến nay Bà Thái Thị Lệ H không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán trả góp theo HĐTD đã ký kết với Công ty.

Công ty đã liên hệ nhắc nợ qua điện thoại rất nhiều lần để yêu cầu Bà Thái Thị Lệ

H thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo HĐTD. Đồng thời, Công ty cũng đã gửi thư đề nghị thanh toán để thông báo trực tiếp cho Bà Thái Thị Lệ H biết về việc đã quá hạn thanh toán. Tuy nhiên, Bà Thái Thị Lệ H vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo HĐTD cho phía Công ty.

Do đã gởi thông báo nhắc nợ nhưng Bà Thái Thị Lệ H vẫn cố tình không thực hiện

nghĩa vụ thanh toán theo HĐTD cho phía Công ty. Nên Công ty đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa Án giải quyết tuyên buộc bà Thái Thị Lệ H thanh toán ngay một lần cho Công ty tổng cộng số tiền tạm tính đến ngày 02/07/2025 là: 51.769.340 đồng. Trong đó:

- Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 20.585.341 đồng.

- Số tiền lãi trong hạn: 10.391.622 đồng.

- Số tiền lãi quá hạn: 19.007.788 đồng.

- Số tiền lãi chậm trả: 1.784.589 đồng.

Diễn giải công thức tính lãi: 1/ Lãi trong hạn:

= Tổng số tiền lãi chưa trả mỗi kỳ (tính đến thời điểm tính lãi) 2/ Lãi quá hạn: (Quy định tại khoản 8.3 Điều 8 của HĐTD) a) Số tiền lãi quá hạn từng kỳ:

= 150% x Lãi suất% x Số tiền gốc chưa trả mỗi kỳ x Số ngày quá hạn : 365 ngày

b) Số tiền lãi quá hạn:

= Tổng số tiền lãi quá hạn từng kỳ (tính đến thời điểm tính lãi) 3/ Lãi chậm trả: (Quy định tại khoản 8.3 Điều 8 của HĐTD) a) Số tiền lãi chậm trả từng kỳ:

= 10% x Số tiền lãi chưa trả mỗi kỳ x Số ngày quá hạn : 365 ngày b) Số tiền lãi chậm trả:

= Tổng số tiền lãi chậm trả từng kỳ (tính đến thời điểm tính lãi)

Cách tính lãi trên được căn cứ tại Khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010

về Lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng, và Khoản 4 Điều 13, Khoản 5 Điều 14 Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

Ngoài ra Công ty còn yêu cầu Tòa án buộc Bà Thái Thị Lệ H phải thanh toán lãi

phát sinh kể từ ngày 03/07/2025 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, nguyên đơn không còn ý kiến hay yêu cầu nào khác.

- Bị đơn: Bà Thái Thị Lệ H vắng mặt trong tất cả các lần triệu tập của Tòa án để lấy

lời khai, tham gia phiên họp công khai chứng cứ hòa giải, xét xử nên không có lời trình

bày.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và có bản tự khai

vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn.

Bị đơn: Bà Thái Thị Lệ H vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 phát biểu ý kiến:

1. Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa

trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử

nghị án:

- Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thông qua kiểm sát việc

giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước thời điểm này, thấy rằng Thẩm phán đã thực hiện

đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Tại phiên tòa

hôm nay, HĐXX đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ

thẩm: thực hiện đúng nguyên tắc xét xử, đúng thành phần HĐXX, đúng như Quyết định

đưa vụ án ra xét xử. Về phần thủ tục, phần hỏi và phần tranh luận, HĐXX cũng thực hiện

đúng quy định.

2. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản

1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 275,357,463, khoản 5 Điều 466, Điều 468 Bộ luật

Dân sự năm 2015; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP của HĐTP TAND tối cao; Căn cứ Nghị

quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu

của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trình

bày của các đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, Hội đồng xét

xử nhận định:

[Về tố tụng:

- Thẩm quyền loại việc:

Bà Thái Thị Lệ H ký Hợp đồng tín dụng để tiêu dùng cá nhân. Do đó, căn cứ vào

khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc tranh chấp về Hợp đồng dân sự vay

tài sản.

- Thẩm quyền lãnh thổ:

Căn cứ kết quả xác minh của Công an Phường 11, Quận 6 (nay là phường Bình Phú)

như sau: “Đương sự Bà Thái Thị Lệ H có hộ khẩu thường trú tại đường HG, phường BP, TP.HCM, hiện nay không còn cư ngụ, đi đâu không rõ.”

Xét, nguyên đơn có đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ thuộc khoản 3 Điều 26, điểm

a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 nên Tòa án nhân dân khu vực 3 thụ lý, giải quyết là đúng quy định pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn đã được Tòa án tống

đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các lần lấy lời khai, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa để tham gia phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng vẫn vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt Bà Thái Thị Lệ H là đúng với quy định tại Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Thời hiệu khởi kiện vụ án:

Trong quá trình giải quyết vụ án thì các bên không yêu cầu Tòa án xem xét thời hiệu

nên Tòa án không áp dụng thời hiệu khởi kiện là đúng với quy định tại khoản 2 Điều 184 của Bộ luật tố tụng dân sự.]

[Về nội dung:

Theo toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Ngày 09/01/2023, Công ty tài chính TNHH một thành viên M-A ký Hợp đồng tín

dụng số: 4163472 về việc cấp tín dụng cho Bà Thái Thị Lệ H với khoản vay trị giá 21,540,000 đồng, lãi suất 46%/năm.

Sau khi hợp đồng được ký kết, Công ty đã giải ngân theo đúng quy định trong HĐTD

cho Bà Thái Thị Lệ H, số tiền giải ngân được Công ty chuyển vào tài khoản cá nhân của Bà Thái Thị Lệ H. Theo HĐTD, Bà Thái Thị Lệ H có trách nhiệm, nghĩa vụ thanh toán là trả góp hàng tháng với số tiền là 1.777.497 đồng trong kỳ hạn 24 tháng, kể từ ngày 25/01/2023 đến ngày 25/12/2024 cho Công ty.

Kể từ ngày được giải ngân đến nay Bà Thái Thị Lệ H chỉ mới thanh toán trả góp cho

Công ty được 01 kỳ với tổng số tiền đã thanh toán là 1.401.000 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Sau khi được giải ngân, bị đơn đã thanh toán là 1.401.000 đồng và không tiếp tục

thực hiện nghĩa vụ thanh toán mà còn nợ lại số tiền gốc là 51.769.340 đồng, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán được quy định tại Điều 8 hợp đồng tín dụng, từ ngày 27/01/2023 đến nay bị đơn không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán trả góp theo HĐTD đã ký kết với nguyên đơn.

Như vậy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng; Căn cứ Điều

91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 466, 468 Bộ luật dân sự 2015, nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải thanh toán toàn bộ khoản nợ 51.769.340 đồng như đã tính chi tiết ở phần trên là có cơ sở chấp nhận.

Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần ngay sau khi Bản án của Tòa án có hiệu

lực pháp luật.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn có nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu án phí dân sự sơ

thẩm, hoàn lại số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn theo quy định tại Nghị quyết

326/2016/UBTVQH14 Nghị Quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý

và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.]

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147;

Điều 184; khoản 2 Điều 227; Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 357, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;

- Căn cứ Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010

- Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2014;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Nghị Quyết quy định

về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính TNHH MTV

M-A. Cụ thể:

1/ Buộc Bà Thái Thị Lệ H phải thanh toán cho Công ty tài chính TNHH MTV M-A

tổng số tiền nợ (tạm tính đến ngày 02/7/2025) là: 51.769.340(năm mươi mốt triệu, bảy trăm

sáu mươi chín ngàn, ba trăm bốn mươi) đồng. Trong đó:

- Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 20.585.341 đồng.

- Số tiền lãi trong hạn: 10.391.622 đồng.

- Số tiền lãi quá hạn: 19.007.788 đồng.

- Số tiền lãi chậm trả: 1.784.589 đồng

Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần ngay sau khi Bản án của Tòa án có hiệu

lực pháp luật.

2/ Bà Thái Thị Lệ H còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 03/7/2025 theo

mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong

các khoản nợ nêu trên.

3/ Các bên thi hành án tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Thái Thị Lệ H phải chịu án phí là: 2.588.467 đồng.

- Hoàn trả cho Công ty tài chính TNHH MTV M-A số tiền tạm ứng án phí đã nộp là

645.502 đồng theo biên lai thu số AA/2021/0021652 ngày 18/10/2023 của Chi cục Thi hành

án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 –

Thành phố Hồ Chí Minh).

5/ Quyền kháng cáo:

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt

hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ