- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Dương Văn Xuất - Hoàng Văn Huy"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn X yêu cầu ông Hoàng Văn H và bà Khuất Thị Bích T trả khoản nợ vay.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2025/ DS -ST Ngày: 08/01/2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thanh Loan
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Thanh Phong và ông Nguyễn Phúc Hiếu
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hoàng Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao tham gia phiên tòa: ông Ngô Duy Long - Kiểm sát viên
Ngày 08/01/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 08/2024/TLST- DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐST - DS ngày 27 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Dương Văn X, sinh năm 1952; Địa chỉ: Khu A, thị trấn H, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Ông Hoàng Văn H, sinh năm 1979 và bà Khuất Thị Bích T, sinh năm 1982; Địa chỉ: Khu C, thị trấn H, huyện L, tỉnh Phú Thọ
(Ông X, ông H và bà T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, ông Dương Văn X trình bày (BL 17):
Tháng 11/2016, ông H và bà T có vay của ông X khoản tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng chẵn). Vì ông H và bà T hẹn trả nhưng không trả đúng hạn nên ông và ông H, bà T đã chốt nợ và chuyển sang viết giấy ủy quyền mua xe máy nhưng thực chất là khoản tiền vay. Ông X đã đòi ông H, bà T nhiều lần nhưng ông bà khất nợ, không trả nợ.
Nay ông yêu cầu ông H và bà T phải có nghĩa vụ trả cho ông số tiền đã vay là 30.000.000đ. Ông không đề nghị ông H, bà T phải trả lãi.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 09/12/2024, ông H và bà T (bị đơn) trình bày:
Ông H, bà T và ông X là người cũng xã. Ngày 18/11/2016, ông H, bà T có vay của ông X số tiền là 30.000.000đ nhưng đã viết giấy với ông X là nhận tiền dể mua xe tay ga hộ ông X. Chữ ký dưới mục “người nhận tiền” đúng là chữ ký của ông H, bà T. Bản chất sự việc trên là ông H, bà T vay tiền của ông X chứ không phải mua xe hộ ông X.
Ông H, bà T khẳng định đã trả đủ số tiền trên cho ông X nhưng do sơ xuất nên đã không lấy lại giấy vay tiền (bản gốc) từ ông X. Thời gian đã lâu nên ông bà không nhớ đã trả cho ông X tiền vào ngày tháng năm nào.
Nay ông X khởi kiện yêu cầu ông H, bà T phải trả số tiền 30.000.000đ, ông bà không nhất trí vì vợ chồng ông bà đã trả đủ cho ông X rồi. Ông H, bà T không có chứng cứ nào chứng minh đã trả nợ cho ông X.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật: trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và các đương sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 463; 465; Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228; Khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn X yêu cầu ông Hoàng Văn H và bà Khuất Thị Bích T trả khoản nợ.
+ Buộc ông Hoàng Văn H và bà Khuất Thị Bích T phải có nghĩa vụ trả cho ông Dương Văn X số tiền nợ là 30.000.000đ.
+ Về án phí dân sự sơ thẩm: ông H và bà T phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét công khai tại phiên tòa. Tòa án nhận định:
. Về thủ tục tố tụng:
[1.1.] Về quan hệ tranh chấp: Ông Dương Văn X khởi kiện yêu cầu ông Hoàng Văn H và bà Khuất Thị Bích T phải trả số tiền nợ đã vay của ông X là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng). Căn cứ Khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
. Về thẩm quyền giải quyết:
Bị đơn có nơi cư trú tại thị trấn H, huyện L, tỉnh Phú Thọ; căn cứ vào khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
[1.3]. Ông X, ông H, bà T đều vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất (có đề nghị xét xử vắng mặt); căn cứ Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
. Về nội dung: Đối với yêu cầu khởi kiện, phạm vi khởi kiện của ông Dương Văn X yêu cầu ông Hoàng Văn H và bà Khuất Thị Bích T trả nợ khoản tiền vay 30.000.000đ nợ gốc, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về khoản tiền vay: Ông Dương Văn X và ông Hoàng Văn H, bà Khuất Thị Bích T đều thống nhất thừa nhận, ông X cho ông H và bà T vay tổng số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng chẵn). Hai bên thỏa thuận thời hạn trả nợ đối với khoản vay trên là 05 tháng kể từ ngày 18/11/2016. Khi vay hai bên đã viết giấy ủy quyền nhờ mua hộ 01 chiếc xe máy nhưng thực chất là vay mượn tiền. sự kiện này đã được các bên đều thừa nhận, không phải chứng minh.
Quá trình giải quyết vụ án, ông H và bà T cho rằng ông bà đã trả đủ khoản nợ trên cho ông X. Tòa án đã ra quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ đối với ông H và bà T tuy nhiên ông H và bà T không xuất trình được tài liệu chứng cứ gì để chứng minh ông bà đã thanh toán dược cho ông X khoản tiền trên. Ông X vẫn giữ nguyên quan điểm xác định ông H và bà T chưa trả khoản tiền nợ. Xét thấy, ông H, bà T đã vi phạm về nghĩa vụ trả nợ, vì vậy, yêu cầu của ông X đề nghị ông H, bà T phải trả cho ông X khoản tiền nợ đã vay nói trên là có căn cứ cần được chấp nhận.
Đối với tiền lãi: Ông X không đề nghị ông H, bà T phải trả tiền lãi của khoản vay. Xét thấy đây là sự tự nguyện của các bên đương sự và phù hợp pháp luật nên HĐXX không xem xét.
. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của ông X được chấp nhận, ông H, bà T phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 463, 465, Điều 466; Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Khoản 1 Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Khoản 1 Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn X yêu cầu ông Hoàng Văn H và bà Khuất Thị Bích T trả khoản nợ vay.
2. Buộc ông Hoàng Văn H và bà Khuất Thị Bích T phải trả cho ông Dương Văn X số tiền nợ là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng chẵn).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả cho đến khi thi hành án xong. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên đương sự nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Hoàng Văn H và bà Khuất Thị Bích T phải chịu 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng chẵn) tiền án phí.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: VKSND tỉnh, huyện; - Đương sự; - Chi cục THADS huyện Lâm Thao; - Lưu HS - Lưu văn phòng. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hà Thanh Loan |